Nhiệt độ
Quản lý linh hoạt lưu lượng khai thác nước để bảo đảm cấp nước an toàn
Quản lý chặt chẽ tài nguyên nước là yêu cầu cần thiết, song đối với lĩnh vực cấp nước sinh hoạt, chính sách cũng cần tính đến những đặc thù trong vận hành. Những vướng mắc từ thực tiễn đang cho thấy nhu cầu hoàn thiện cơ chế để vừa bảo vệ tài nguyên, vừa bảo đảm an ninh cấp nước.
Ông Vũ Mạnh Dũng - Chủ tịch Chi hội Cấp Thoát nước miền Bắc, Chủ tịch Công ty CP Kinh doanh nước sạch Hải Dương cho biết: Hiện nay, việc khai thác nước, cấp phép, cấp quyền tài nguyên nước căn cứ theo Nghị định số 54/2024/NĐ-CP ngày 16/5/2024 của Chính phủ quy định việc hành nghề khoan nước dưới đất, kê khai, đăng ký, cấp phép, dịch vụ tài nguyên nước và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước và Nghị định số 23/2026/NĐ-CP ngày 17/01/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định trong lĩnh vực tài nguyên nước. Tuy nhiên, qua phản ánh của hội viên Chi hội Cấp Thoát nước miền Bắc, các doanh nghiệp cấp nước đang gặp một số khó khăn trong quá trình thực hiện.

Ông Vũ Mạnh Dũng - Chủ tịch Chi hội Cấp Thoát nước miền Bắc, Chủ tịch Công ty CP Kinh doanh nước sạch Hải Dương.
Khi doanh nghiệp cấp nước đứng trước lựa chọn "tiến thoái lưỡng nan"
Nước sạch là hàng hóa đặc biệt, gắn trực tiếp với đời sống dân sinh, y tế, giáo dục và hoạt động sản xuất. Khác với nhiều loại tài nguyên khác, nước sau khi được khai thác không thể lưu kho, tích trữ hay điều tiết theo nhu cầu thị trường mà phải được xử lý và cấp liên tục đến người sử dụng. Chính vì vậy, theo phản ánh của Chi hội Cấp thoát nước miền Bắc, nhiều quy định hiện hành về khai thác tài nguyên nước đang bộc lộ những bất cập khi áp dụng đối với lĩnh vực cấp nước sinh hoạt.
Một trong những khó khăn lớn nhất là giấy phép khai thác nước hiện quy định lưu lượng tối đa theo đơn vị m³/ngày đêm, trong khi việc giám sát được thực hiện trực tuyến và rất chặt chẽ qua hệ thống truyền dữ liệu trực tuyến về cổng thông tin điện tử của Bộ Ngông nghiệp và Môi trường hoặc Sở Nông nghiệp và Môi trường. Về nguyên tắc quản lý tài nguyên, đây là quy định cần thiết. Tuy nhiên, trong thực tế vận hành, doanh nghiệp cấp nước thường xuyên phải đối mặt với những tình huống không thể dự báo trước.
Đó có thể là thiên tai, lũ lụt, suy giảm mực nước sông đột ngột, sự cố đường ống hoặc các biến động bất thường của nguồn nước khiến cho các nhà máy có thể phải tạm ngừng khai thác. Sau khi khắc phục sự cố, để bù lượng nước thiếu hụt trên toàn mạng lưới và nhanh chóng khôi phục áp lực, lưu lượng cấp nước cho người dân, các nhà máy buộc phải tăng lưu lượng khai thác nước thô trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo Chi hội Cấp thoát nước miền Bắc, chính ở thời điểm này, doanh nghiệp rơi vào thế "tiến thoái lưỡng nan". Nếu tăng khai thác để bảo đảm cấp nước thì có nguy cơ vượt lưu lượng ghi trong giấy phép và có thể bị xử phạt theo Nghị định 290/2025/NĐ-CP ngày 6/11/2025 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước. Ngược lại, nếu tuyệt đối tuân thủ giấy phép thì nguy cơ thiếu nước, mất nước cục bộ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của người dân và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
Không chỉ trong các tình huống khẩn cấp, áp lực còn đến từ quy luật tiêu thụ nước theo mùa. Ông Vũ Mạnh Dũng cho biết: "Vào các đợt nắng nóng hoặc dịp lễ, Tết, nhu cầu sử dụng nước thường tăng từ 20-30% so với ngày bình thường. Tình trạng vỡ ống thường xuyên xảy ra, nguy cơ làm gián đoạn nguồn cung cấp nước sạch. Các đơn vị cấp nước buộc phải đưa toàn bộ hệ thống xử lý, cụm bể lắng, bể lọc và bơm tăng áp hoạt động hết công suất thiết kế 24/24 giờ để không xảy ra tình trạng thiếu hụt nguồn cung. Khi đó doanh nghiệp vừa phải bảo đảm đủ lưu lượng, vừa phải tăng cường kiểm soát chất lượng nước, xét nghiệm mẫu và bổ sung lượng hóa chất an toàn xử lý để duy trì chất lượng nước sạch đạt quy chuẩn."
Chi hội Cấp thoát nước miền Bắc kiến nghị cần hướng dẫn rõ hơn việc áp dụng Khoản 7 Điều 7 của Nghị định 290/2025/NĐ-CP về các trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính. Theo các doanh nghiệp, cần quy định cụ thể các tình huống bất khả kháng hoặc trường hợp phải tăng lưu lượng khai thác nhằm bảo đảm cấp nước liên tục cho người dân. Việc làm rõ căn cứ miễn xử phạt sẽ giúp doanh nghiệp yên tâm xử lý các tình huống khẩn cấp, tránh tâm lý e ngại khi phải lựa chọn giữa việc tuân thủ nghiêm lưu lượng ghi trong giấy phép và nhiệm vụ bảo đảm không để xảy ra tình trạng thiếu nước, mất nước cục bộ ảnh hưởng đến đời sống dân sinh và hoạt động sản xuất.
Không chỉ là câu chuyện xử phạt
Theo Chi hội Cấp thoát nước miền Bắc, vấn đề không chỉ nằm ở cơ chế xử phạt mà còn ở cách tiếp cận trong quản lý hoạt động khai thác nước phục vụ dân sinh. Nội dung được nhiều doanh nghiệp phản ánh là cơ chế tính tiền cấp quyền khai thác nước.
Theo quy định tại Nghị định số 54/2024/NĐ-CP và Nghị định số 23/2026/NĐ-CP, giấy phép khai thác nước mặt có thời hạn tối đa 10 năm, đồng thời tiền cấp quyền được xác định theo lưu lượng khai thác tối đa ghi trong giấy phép. Trong khi đó, để đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị và dự phòng cho các giai đoạn cao điểm, các nhà máy thường phải đăng ký công suất lớn hơn sản lượng khai thác thực tế. Điều này dẫn đến việc doanh nghiệp phải nộp tiền cấp quyền đối với cả phần công suất dự phòng chưa sử dụng.
Theo các doanh nghiệp cấp nước, cơ chế trên chưa phản ánh đúng thực tế vận hành của ngành nước, bởi công suất dự phòng là yêu cầu cần thiết để bảo đảm cấp nước an toàn, liên tục chứ không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp khai thác hết lưu lượng đã được cấp phép. Vì vậy, nhiều ý kiến đề xuất cần nghiên cứu cơ chế quản lý và tính tiền cấp quyền khai thác theo phương thức linh hoạt hơn, vừa bảo đảm yêu cầu quản lý tài nguyên nước, vừa giảm áp lực chi phí cho doanh nghiệp.

Nước sạch về bản Lùng Phình (Lào Cai). Ảnh: Huyền Vũ
Một bất cập khác là việc xác định vùng cấp nước. Quá trình mở rộng đô thị, điều chỉnh địa giới hành chính hoặc hình thành các khu dân cư mới khiến ranh giới vùng cấp nước giữa nhiều nơi bị chồng lấn giữa các doanh nghiệp cũ và mới, hoặc chưa được điều chỉnh kịp thời. Trong khi đó, thủ tục điều chỉnh vùng phục vụ còn kéo dài, làm chậm tiến độ đầu tư mạng lưới và ảnh hưởng đến mục tiêu tăng tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch. Theo các doanh nghiệp, nếu cơ chế phân vùng không đủ linh hoạt, nhiều khu dân cư dù đã ở sát hệ thống đường ống hiện hữu vẫn phải chờ đợi trong thời gian dài mới được tiếp cận nước sạch.
Bên cạnh đó, việc chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp cũng được cho là cần tiếp tục hoàn thiện. Mặc dù các đơn vị cấp nước đã đầu tư hệ thống quan trắc, giám sát lưu lượng và chất lượng nước, song việc tiếp cận thông tin về nguồn thải, vận hành hồ chứa hoặc chất lượng nguồn nước thượng lưu vẫn còn hạn chế. Nếu có cơ chế kết nối và chia sẻ dữ liệu đồng bộ, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong công tác bảo vệ nguồn nước thô và phòng ngừa rủi ro.
Hoàn thiện khung pháp lý phù hợp hơn với đặc thù của ngành Nước
Từ những vướng mắc nêu trên, Chi hội Cấp thoát nước miền Bắc kiến nghị sớm hoàn thiện khung pháp lý theo hướng phù hợp hơn với đặc thù của ngành cấp nước. Theo đó, Chi hội đề xuất sớm ban hành Luật Cấp Thoát nước nhằm tạo hành lang pháp lý thống nhất cho toàn ngành. Đồng thời, nghiên cứu điều chỉnh phương thức quản lý lưu lượng khai thác từ mức tối đa theo ngày sang lưu lượng trung bình theo tháng hoặc tổng sản lượng khai thác trong năm. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm kiểm soát tổng lượng tài nguyên khai thác, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động điều tiết sản xuất trong các giai đoạn cao điểm hoặc tình huống khẩn cấp.
Chi hội cũng kiến nghị thực hiện tính tiền cấp quyền khai thác nước theo m3 nước thô thực tế doanh nghiệp khai thác để tính đúng, tính đủ; đồng thời quy hoạch các hồ chứa nước thô dự phòng quy mô lớn, tách biệt với các nguồn có nguy cơ ô nhiễm và xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu quan trắc xả thải giữa cơ quan quản lý với doanh nghiệp cấp nước.
Đáng chú ý, các doanh nghiệp cũng mong muốn trong quá trình thực thi Nghị định 290, cơ quan quản lý nhà nước có hướng dẫn cụ thể hơn về các trường hợp không xử phạt đối với hoạt động khai thác nước trong tình huống bất khả kháng. Việc xác định rõ căn cứ miễn trừ trách nhiệm sẽ giúp doanh nghiệp yên tâm xử lý sự cố, ưu tiên mục tiêu bảo đảm cấp nước liên tục cho người dân mà vẫn tuân thủ quy định của pháp luật.
Có thể thấy, yêu cầu quản lý chặt chẽ tài nguyên nước là cần thiết trong bối cảnh nguồn nước ngày càng chịu nhiều sức ép. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực cấp nước sinh hoạt - một dịch vụ thiết yếu - chính sách quản lý cũng cần tính đến những đặc thù của hoạt động vận hành. Một cơ chế vừa bảo đảm kỷ cương trong khai thác tài nguyên, vừa tạo dư địa để doanh nghiệp chủ động ứng phó với các tình huống phát sinh sẽ là nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu bảo đảm an ninh nguồn nước và cung cấp nước sạch an toàn, liên tục cho người dân.
Lâm Bình – Hà Thắm
Đọc thêm
Luật Cấp, Thoát nước cần tháo gỡ các điểm nghẽn trong đầu tư và vận hành
Quản lý rủi ro, khai thác nước trong tình huống khẩn cấp, cơ chế giá, đầu tư PPP, cấp nước nông thôn và bàn giao tài sản thoát nước là những nội dung được đề nghị quy định rõ trong Luật Cấp, Thoát nước. Các ý kiến tập trung vào những vướng mắc đang phát sinh trực tiếp trong quy hoạch, đầu tư, quản lý và cung cấp dịch vụ…
Doanh nghiệp cấp nước khó xử trước giới hạn lưu lượng
Quản lý lưu lượng khai thác nước là cần thiết để bảo vệ tài nguyên. Tuy nhiên, nhu cầu dùng nước biến động theo thời tiết, sự cố mạng lưới, suy giảm nguồn nước thô hoặc nhu cầu tăng đột biến, buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh vận hành để đảm bảo cấp nước ổn định.
SAWACO: Chung tay bảo vệ nguồn nước sạch
Trước tình trạng khai thác nước ngầm quá mức, việc nâng cao ý thức cộng đồng về sử dụng nước sạch và tiết kiệm đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Xuất phát từ yêu cầu đó, chương trình “SAWACO Xanh - Hành trình bảo vệ nguồn nước” đã được tổ chức nhằm lan tỏa thông điệp bảo vệ nguồn nước và sử dụng nước tiết kiệm.
VWSA tập huấn Nghị định 290 - Kết nối thực tiễn để hoàn thiện chính sách ngành Nước
Việc triển khai Nghị định số 290/2025/NĐ-CP đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với doanh nghiệp ngành Nước. Tại hội nghị tập huấn do Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA) tổ chức, nhiều vướng mắc từ thực tiễn đã được phản ánh, góp phần hoàn thiện Dự thảo Luật Cấp, Thoát nước.
Giải bài toán cân bằng giữa quản lý tài nguyên với an ninh cấp nước
Thực tiễn vận hành của các doanh nghiệp cấp nước cho thấy, việc thực hiện các quy định về quản lý tài nguyên nước vẫn còn những vướng mắc cần tháo gỡ. Hoàn thiện cơ chế theo hướng phù hợp với đặc thù ngành Nước sẽ góp phần hài hòa mục tiêu bảo vệ tài nguyên và bảo đảm cấp nước an toàn.
Nước uống tại vòi chờ hành lang kỹ thuật
Mô hình nước uống tại vòi đã xuất hiện tại Huế, Đà Nẵng, TP.HCM, Cần Thơ và một số địa phương. Tuy nhiên, để mở rộng từ các điểm thí điểm sang hệ thống cấp nước sinh hoạt, doanh nghiệp vẫn cần hành lang kỹ thuật rõ ràng về chất lượng, phạm vi áp dụng và trách nhiệm công bố.
Đại hội VWSA nhiệm kỳ VII và Tuần lễ ngành Nước Việt Nam 2026: Hai sự kiện, một điểm tụ
Năm 2026 đánh dấu cột mốc đặc biệt của ngành Nước khi tổ chức đồng thời Tuần lễ ngành Nước Việt Nam (Vietnam Water Week) và Đại hội Đại biểu toàn quốc nhiệm kỳ VII Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA). Sự cộng hưởng ấy tạo nên điểm hội tụ hiếm có, nơi tầm nhìn, công nghệ, doanh nghiệp và các nguồn lực phát triển giao thoa.
Cấp nước sinh hoạt cần được nhìn nhận khác với khai thác tài nguyên thông thường
Hoạt động khai thác, cung cấp nước sạch phục vụ dân sinh có nhiều đặc thù khác biệt so với tài nguyên thông thường. Từ thực tế vận hành, ông Nguyễn Văn Bút - Phó Chủ tịch Hội Cấp Thoát nước Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Cấp nước Phú Thọ cho rằng cần có cách tiếp cận phù hợp hơn đối với hoạt động thiết yếu này.
El Nino trở lại, doanh nghiệp cấp nước cần rà soát sớm hồ sơ khai thác
El Nino đã hình thành và được cảnh báo có thể tác động mạnh đến thời tiết Việt Nam trong những tháng cuối năm 2026. Với ngành Cấp nước, nguy cơ không chỉ nằm ở thiếu hụt nguồn nước thô, mà còn phải đối mặt với tình huống doanh nghiệp phải tăng khai thác để bảo đảm cấp nước liên tục nhưng chưa kịp hoàn thiện hồ sơ pháp lý.

