Nhiệt độ
Doanh nghiệp cấp nước khó xử trước giới hạn lưu lượng
Quản lý lưu lượng khai thác nước là cần thiết để bảo vệ tài nguyên. Tuy nhiên, nhu cầu dùng nước biến động theo thời tiết, sự cố mạng lưới, suy giảm nguồn nước thô hoặc nhu cầu tăng đột biến, buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh vận hành để đảm bảo cấp nước ổn định.
Thực tế vận hành, các đơn vị cấp nước đang "khó xử" khi Nghị định 290/2025/NĐ-CP có nhiều quy định mới về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước. Theo đó, dữ liệu quan trắc, lưu lượng khai thác và việc chấp hành giấy phép đều có thể trở thành căn cứ xem xét vi phạm. Với doanh nghiệp cấp nước, câu chuyện không chỉ là "xử phạt" mà còn cần một cơ chế pháp lý rõ ràng để xử lý những thời điểm nhu cầu sử dụng nước tăng bất thường hoặc phát sinh tình huống cấp thiết, đảm bảo mục tiêu cung cấp đủ nước cho dân.

Doanh nghiệp cấp nước cần một cơ chế pháp lý rõ ràng để xử lý những thời điểm nhu cầu sử dụng nước tăng bất thường hoặc phát sinh tình huống cấp thiết. (Ảnh minh hoạ)
Khó xử giữa giấy phép và nhu cầu thực tế
Theo ông Vũ Mạnh Dũng, Chủ tịch Chi hội Cấp Thoát nước miền Bắc, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Kinh doanh nước sạch Hải Dương, giấy phép khai thác nước hiện quy định lưu lượng tối đa theo m³/ngày đêm. Cách quản lý này giúp cơ quan nhà nước kiểm soát tài nguyên nước, nhưng trong thực tế vận hành, doanh nghiệp cấp nước có thể gặp những tình huống rất khó xử.
Khi thiên tai, lũ lụt, suy giảm mực nước sông, sự cố đường ống hoặc gián đoạn nguồn cấp xảy ra, nhà máy có thể phải tạm dừng khai thác. Sau khi khắc phục, doanh nghiệp buộc phải tăng lưu lượng để bù lượng nước thiếu hụt trên mạng lưới, bảo đảm áp lực và duy trì cấp nước cho người dân, cơ sở sản xuất, dịch vụ thiết yếu.
Vào các đợt nắng nóng cao điểm, dịp lễ, Tết, nhu cầu sử dụng nước thường tăng 20 đến 30% so với ngày bình thường. Khi đó, nhiều nhà máy phải vận hành tối đa công suất thiết kế, duy trì hệ thống bơm, bể lắng, bể lọc, trạm tăng áp hoạt động liên tục. Nếu chỉ áp dụng cứng lưu lượng khai thác tối đa theo ngày, doanh nghiệp đứng trước hai lựa chọn đều bất lợi. Tăng khai thác để giữ ổn định cấp nước thì có nguy cơ vượt giấy phép. Tuân thủ theo đúng giấy phép thì có thể để xảy ra thiếu nước, mất nước cục bộ.
Từ thực tế đó, Chi hội Cấp Thoát nước miền Bắc kiến nghị cần xem xét cơ chế quản lý lưu lượng linh hoạt hơn. Thay vì chỉ căn cứ vào mức tối đa m³/ngày đêm, có thể quản lý theo lưu lượng trung bình tháng hoặc tổng lưu lượng khai thác năm, với điều kiện tổng sản lượng thực tế không vượt quá lưu lượng được cấp phép. Cách tiếp cận này vừa giúp doanh nghiệp chủ động điều tiết vận hành, vừa vẫn bảo đảm mục tiêu kiểm soát tài nguyên nước.
Tại Bắc Ninh, ông Trần Khánh Tịnh, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Nước sạch Bắc Ninh, cho biết nhu cầu sử dụng nước của người dân và doanh nghiệp tăng bình quân 8 đến 10% mỗi năm. Riêng vào những đợt nắng nóng gay gắt, lượng nước tiêu thụ có thể tăng 20 đến 40% so với ngày bình thường.
Theo ông Tịnh, khó khăn lớn hiện nay là chưa có quy trình rõ ràng cho trường hợp doanh nghiệp phải khai thác vượt lưu lượng trong thời gian ngắn để phục vụ cấp nước sinh hoạt. Nếu ưu tiên cấp đủ nước cho dân, số liệu quan trắc tự động có thể ghi nhận là khai thác vượt lưu lượng giấy phép. Nếu không tăng khai thác, thiếu nước sinh hoạt, thiếu nước cho sản xuất và dịch vụ thiết yếu có thể xảy ra.
Dù cơ quan đầu mối tham mưu chuyên môn cho UBND tỉnh đã rõ ràng là Sở Nông nghiệp và Môi trường, nhưng do đặc thù tình huống khẩn cấp diễn ra rất nhanh trong vài ngày nắng nóng, doanh nghiệp mong muốn có một cơ chế phối hợp phản ứng nhanh với quy trình rút gọn được thiết lập sẵn. Điều này giúp doanh nghiệp vừa kịp thời đáp ứng nhu cầu nước sạch của nhân dân, vừa đảm bảo tuân thủ tuyệt đối các quy định kiểm soát lưu lượng trên giấy phép.
Từ thực tế vận hành tại một địa bàn đô thị và công nghiệp phát triển nhanh, Công ty CP Nước sạch Bắc Ninh đề xuất cần có cơ chế cho phép biên độ dao động lưu lượng trong các trường hợp bất khả kháng hoặc cấp thiết như nắng nóng cực đoan, hạn hán, hỏa hoạn, sự cố mạng lưới hoặc nhu cầu tăng đột biến ngắn ngày. Cơ chế này phải đi kèm yêu cầu báo cáo, giám sát và giải trình đầy đủ, nhưng không nên để doanh nghiệp bị động khi phải xử lý những tình huống phát sinh tức thời.
Cần tính đến mùa vụ, vùng miền và tình huống cấp thiết
Từ thực tế, ông Nguyễn Văn Bút, Phó Chủ tịch Hội Cấp Thoát nước Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Cấp nước Phú Thọ cho rằng, cấp nước sinh hoạt cần được nhìn nhận khác với khai thác tài nguyên thông thường. Nước thô sau khi khai thác được xử lý và cấp ngay cho người dân, cơ quan, trường học, bệnh viện, khu sản xuất và các nhu cầu thiết yếu khác. Doanh nghiệp cấp nước không có kho để lưu trữ nước như các loại tài nguyên thông thường, cũng không thể dừng cấp nước khi người dân đang có nhu cầu sử dụng hằng ngày.

Cấp nước sinh hoạt cần được nhìn nhận khác với khai thác tài nguyên thông thường. (Ảnh minh hoạ)
Theo ông Nguyễn Văn Bút, nhu cầu dùng nước biến động rất lớn theo thời tiết. Vào những ngày nắng nóng kéo dài, nhu cầu sinh hoạt, tưới cây, sản xuất và dịch vụ có thể tăng khoảng 30 đến 35% so với ngày bình thường. Nếu giấy phép khai thác chỉ quy định cứng một mức lưu lượng cố định theo ngày, doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình thế khó xử. Tăng khai thác thì có nguy cơ vượt giấy phép. Không tăng khai thác thì người dân có thể thiếu nước, mất nước cục bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt và sản xuất.
Đối với khu vực miền Bắc, ông Bút cho rằng cần tính đến sự khác biệt giữa mùa hè và mùa đông. Mùa hè nhu cầu nước tăng cao, trong khi mùa đông có thời điểm sử dụng thấp hơn. Ngay trong cùng một hệ thống cấp nước, nhu cầu giữa khu vực đô thị, nông thôn, miền núi cũng không hoàn toàn giống nhau. Vì vậy, cơ chế cấp phép cần tính đến đặc thù mùa vụ và vùng miền, thay vì áp dụng duy nhất một mức lưu lượng tối đa theo ngày cho mọi tình huống.
Một vấn đề khác là diễn biến nguồn nước thô ngày càng khó lường. Vào mùa khô, nhiều dòng sông cạn nước, doanh nghiệp phải điều chỉnh trạm thu, hạ thấp vị trí hút nước, lắp thêm bơm hoặc thay đổi phương án vận hành để duy trì nguồn cấp. Những việc này đòi hỏi phản ứng nhanh. Nếu doanh nghiệp phải chờ quy trình xin ý kiến kéo dài, khả năng bảo đảm cấp nước trong thời điểm cấp thiết sẽ bị ảnh hưởng.
Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA) khẳng định, cần phân biệt rõ giữa hành vi cố ý khai thác vượt phép để trục lợi với trường hợp doanh nghiệp phải vận hành trong tình huống cấp thiết để duy trì cấp nước sinh hoạt. Hai trường hợp này không thể được đánh giá như nhau.
Theo VWSA, nếu doanh nghiệp có phương án vận hành, có số liệu quan trắc, có báo cáo kịp thời, có hồ sơ chứng minh diễn biến nguồn nước, nhu cầu sử dụng nước và có phối hợp với cơ quan quản lý địa phương, việc xem xét xử lý cần đặt trong bối cảnh đặc thù của dịch vụ cấp nước sạch. Điều này không có nghĩa doanh nghiệp được phép chủ quan hoặc tự ý vượt quy định, mà là cần có hành lang rõ ràng để doanh nghiệp biết phải làm gì khi tình huống cấp thiết xảy ra.
Thực tế cho thấy, quản lý lưu lượng khai thác nước không thể chỉ dừng ở một con số cố định theo ngày. Con số đó cần được đặt trong bối cảnh vận hành cụ thể, gồm dữ liệu khai thác, biến động nhu cầu, mùa vụ, diễn biến nguồn nước, sự cố kỹ thuật và yêu cầu bảo đảm cấp nước an toàn. Khi nhu cầu dùng nước thay đổi theo thời tiết và tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, cơ chế quản lý cũng cần đủ linh hoạt để theo kịp thực tế.
Việc quản lý cần giữ nguyên tắc kiểm soát tổng lượng khai thác, nhưng phải có khoảng linh hoạt cho vận hành thực tế. Doanh nghiệp không thể tự ý vượt lưu lượng, song cũng cần một quy trình đủ nhanh để xử lý các tình huống nắng nóng kéo dài, hạn hán, ô nhiễm nguồn nước, sự cố mạng lưới hoặc nhu cầu tăng đột biến. Khi có dữ liệu quan trắc, hồ sơ vận hành, báo cáo kịp thời và trách nhiệm giải trình rõ ràng, việc xem xét pháp lý cần đặt trong đúng bối cảnh cấp nước dân sinh, thay vì chỉ đối chiếu máy móc với một mức lưu lượng cố định.
Bảo vệ tài nguyên nước là yêu cầu bắt buộc. Nhưng bảo đảm cấp nước an toàn, liên tục cho người dân cũng là nhiệm vụ không thể gián đoạn. Khi hai yêu cầu này cùng tồn tại, chính sách quản lý lưu lượng khai thác nước cần chuyển từ tư duy "một con số cố định theo ngày" sang cơ chế linh hoạt hơn, dựa trên dữ liệu vận hành, biến động nhu cầu, đặc thù mùa vụ và tình huống cấp thiết. Đây là cơ sở để doanh nghiệp cấp nước vừa tuân thủ pháp luật, vừa thực hiện đúng trách nhiệm phục vụ dân sinh.
Mai Thanh - Vy Anh
Quỹ Tấm Lòng Vàng BWACO chi gần 400 triệu đồng trong 6 tháng đầu năm 2026
PYWASE đưa giai đoạn 1 dự án nâng cấp Nhà máy nước Đông Bắc sông Cầu vào khai thác
Rà soát điều chỉnh quy trình vận hành liên hồ chứa sông Đồng Nai, bảo đảm an ninh nguồn nước
SOCTRANGWACO tìm nguồn nước mới để bảo đảm nhu cầu dùng nước cho người dân
Đọc thêm
SAWACO: Chung tay bảo vệ nguồn nước sạch
Trước tình trạng khai thác nước ngầm quá mức, việc nâng cao ý thức cộng đồng về sử dụng nước sạch và tiết kiệm đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Xuất phát từ yêu cầu đó, chương trình “SAWACO Xanh - Hành trình bảo vệ nguồn nước” đã được tổ chức nhằm lan tỏa thông điệp bảo vệ nguồn nước và sử dụng nước tiết kiệm.
VWSA tập huấn Nghị định 290 - Kết nối thực tiễn để hoàn thiện chính sách ngành Nước
Việc triển khai Nghị định số 290/2025/NĐ-CP đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với doanh nghiệp ngành Nước. Tại hội nghị tập huấn do Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA) tổ chức, nhiều vướng mắc từ thực tiễn đã được phản ánh, góp phần hoàn thiện Dự thảo Luật Cấp, Thoát nước.
Giải bài toán cân bằng giữa quản lý tài nguyên với an ninh cấp nước
Thực tiễn vận hành của các doanh nghiệp cấp nước cho thấy, việc thực hiện các quy định về quản lý tài nguyên nước vẫn còn những vướng mắc cần tháo gỡ. Hoàn thiện cơ chế theo hướng phù hợp với đặc thù ngành Nước sẽ góp phần hài hòa mục tiêu bảo vệ tài nguyên và bảo đảm cấp nước an toàn.
Nước uống tại vòi chờ hành lang kỹ thuật
Mô hình nước uống tại vòi đã xuất hiện tại Huế, Đà Nẵng, TP.HCM, Cần Thơ và một số địa phương. Tuy nhiên, để mở rộng từ các điểm thí điểm sang hệ thống cấp nước sinh hoạt, doanh nghiệp vẫn cần hành lang kỹ thuật rõ ràng về chất lượng, phạm vi áp dụng và trách nhiệm công bố.
Quản lý linh hoạt lưu lượng khai thác nước để bảo đảm cấp nước an toàn
Quản lý chặt chẽ tài nguyên nước là yêu cầu cần thiết, song đối với lĩnh vực cấp nước sinh hoạt, chính sách cũng cần tính đến những đặc thù trong vận hành. Những vướng mắc từ thực tiễn đang cho thấy nhu cầu hoàn thiện cơ chế để vừa bảo vệ tài nguyên, vừa bảo đảm an ninh cấp nước.
Đại hội VWSA nhiệm kỳ VII và Tuần lễ ngành Nước Việt Nam 2026: Hai sự kiện, một điểm tụ
Năm 2026 đánh dấu cột mốc đặc biệt của ngành Nước khi tổ chức đồng thời Tuần lễ ngành Nước Việt Nam (Vietnam Water Week) và Đại hội Đại biểu toàn quốc nhiệm kỳ VII Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA). Sự cộng hưởng ấy tạo nên điểm hội tụ hiếm có, nơi tầm nhìn, công nghệ, doanh nghiệp và các nguồn lực phát triển giao thoa.
Cấp nước sinh hoạt cần được nhìn nhận khác với khai thác tài nguyên thông thường
Hoạt động khai thác, cung cấp nước sạch phục vụ dân sinh có nhiều đặc thù khác biệt so với tài nguyên thông thường. Từ thực tế vận hành, ông Nguyễn Văn Bút - Phó Chủ tịch Hội Cấp Thoát nước Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Cấp nước Phú Thọ cho rằng cần có cách tiếp cận phù hợp hơn đối với hoạt động thiết yếu này.
El Nino trở lại, doanh nghiệp cấp nước cần rà soát sớm hồ sơ khai thác
El Nino đã hình thành và được cảnh báo có thể tác động mạnh đến thời tiết Việt Nam trong những tháng cuối năm 2026. Với ngành Cấp nước, nguy cơ không chỉ nằm ở thiếu hụt nguồn nước thô, mà còn phải đối mặt với tình huống doanh nghiệp phải tăng khai thác để bảo đảm cấp nước liên tục nhưng chưa kịp hoàn thiện hồ sơ pháp lý.
Ngành Nước chuyển đổi số để vận hành chính xác hơn
Ngành Nước không chỉ cần mở rộng nhà máy, mạng lưới hay công suất. Bởi, khi áp lực vận hành, thất thoát, chất lượng dịch vụ và biến động nguồn nước tăng lên, chuyển đổi số trở thành nền tảng để doanh nghiệp ngành Nước quản trị an toàn, hiệu quả và chủ động.