Nhiệt độ
Cấp nước sinh hoạt cần được nhìn nhận khác với khai thác tài nguyên thông thường
Hoạt động khai thác, cung cấp nước sạch phục vụ dân sinh có nhiều đặc thù khác biệt so với tài nguyên thông thường. Từ thực tế vận hành, ông Nguyễn Văn Bút - Phó Chủ tịch Hội Cấp Thoát nước Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Cấp nước Phú Thọ cho rằng cần có cách tiếp cận phù hợp hơn đối với hoạt động thiết yếu này.
Cần cách tiếp cận phù hợp với đặc thù hoạt động cấp nước
Quản lý chặt chẽ tài nguyên nước là yêu cầu cần thiết, nhưng thực tế vận hành cấp nước sạch đang đặt ra nhiều tình huống cần được xem xét phù hợp hơn. Khi nắng nóng, hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước hoặc sự cố mạng lưới xảy ra, doanh nghiệp có thể phải điều chỉnh phương án khai thác, xử lý và phân phối nước để bảo đảm cấp nước liên tục cho người dân. Từ thực tiễn này, nhiều doanh nghiệp ngành Nước kiến nghị cần có hướng dẫn rõ hơn về giấy phép, lưu lượng khai thác, tình huống cấp thiết và cơ chế xử lý vi phạm.

Ông Nguyễn Văn Bút - Phó Chủ tịch Hội Cấp Thoát nước Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Cấp nước Phú Thọ.
"Từ thực tế vận hành cấp nước sạch, chúng tôi cho rằng cần có cách tiếp cận phù hợp hơn đối với hoạt động khai thác nước phục vụ dân sinh. Nước thô sau khi khai thác được xử lý và cấp ngay cho người dân, cơ quan, trường học, bệnh viện, khu sản xuất và các nhu cầu thiết yếu khác. Doanh nghiệp cấp nước không có kho để lưu trữ nước như các loại khoáng sản thông thường, không thể giữ lại sản lượng để bán riêng, cũng không thể dừng cấp nước trong khi người dân đang có nhu cầu sử dụng hằng ngày" - ông Nguyễn Văn Bút cho biết.
Theo lãnh đạo Công ty CP Cấp nước Phú Thọ, mỗi m3 nước sạch cấp ra đều đi qua hệ thống đồng hồ, được ghi nhận sản lượng, phát hành hóa đơn và thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định. Hoạt động này không giống khai thác đất, đá, cát, sỏi hay khoáng sản có thể tồn kho, vận chuyển, mua bán ngoài hệ thống kiểm soát. Vì vậy, khi xem xét các hành vi liên quan đến khai thác vượt giấy phép hoặc chưa kịp điều chỉnh giấy phép, cần phân biệt rõ giữa mục đích phục vụ dân sinh với hành vi khai thác tài nguyên để kinh doanh thông thường.
Trong vận hành cấp nước, nhu cầu sử dụng nước biến động rất lớn theo thời tiết. Vào những ngày nắng nóng, nhất là khi nhiệt độ tăng cao kéo dài, nhu cầu sinh hoạt, tưới cây, sản xuất và dịch vụ có thể tăng khoảng 30 đến 35% so với ngày bình thường. Nếu giấy phép khai thác chỉ quy định cứng một mức lưu lượng cố định theo ngày, doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình huống khó xử. Tăng khai thác thì có nguy cơ vượt giấy phép. Không tăng khai thác thì người dân có thể thiếu nước, mất nước cục bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt và sản xuất.
Ông Nguyễn Văn Bút đề xuất, đối với khu vực miền Bắc, cần tính đến đặc thù mùa hè và mùa đông. Mùa hè nhu cầu nước tăng cao, trong khi mùa đông có thời điểm sử dụng thấp hơn nhiều. Cơ chế cấp phép nên cho phép xác định lưu lượng theo mùa, theo lưu lượng trung bình tháng hoặc tổng sản lượng khai thác trong năm, thay vì chỉ căn cứ vào một mức tối đa theo ngày. Cách làm này giúp doanh nghiệp chủ động điều tiết vận hành, bảo đảm cấp nước an toàn, đồng thời vẫn kiểm soát được tổng lượng khai thác tài nguyên nước.
Một vấn đề khác cần được làm rõ là tình huống khẩn cấp trong cấp nước. Khi hạn hán, suy giảm mực nước sông, ô nhiễm nguồn nước, sự cố đường ống hoặc thời tiết cực đoan xảy ra, doanh nghiệp phải xử lý ngay để không làm gián đoạn cấp nước. Có trường hợp phải hạ thấp vị trí lấy nước, lắp đặt bơm chìm, sử dụng bơm dã chiến hoặc tăng công suất xử lý sau khi khắc phục sự cố. Những tình huống này cần có hướng dẫn rõ về báo cáo, thẩm quyền chấp thuận, thời hạn xử lý và căn cứ miễn hoặc giảm trách nhiệm xử phạt nếu doanh nghiệp đã thực hiện đúng nghĩa vụ thông tin.
Thủ tục điều chỉnh, gia hạn hoặc cấp phép mới cũng cần được rút gọn đối với các công trình cấp nước phục vụ dân sinh. Ông Nguyễn Văn Bút trăn trở: "Nhiều nhà máy được hình thành từ lâu, hồ sơ pháp lý qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong khi yêu cầu hiện nay lại đòi hỏi đầy đủ quy hoạch vùng cấp nước, thỏa thuận vùng, quyết định chủ trương đầu tư hoặc các thủ tục mới phát sinh. Nếu hồ sơ bị kéo dài, doanh nghiệp không được cấp phép kịp thời, nhưng vẫn phải duy trì cấp nước cho người dân, rủi ro pháp lý sẽ tiếp tục dồn về phía đơn vị vận hành."
Hoàn thiện chính sách để bảo đảm an ninh cấp nước
Bên cạnh việc cần thay đổi cách tiếp cận trong quản lý hoạt động khai thác nước phục vụ dân sinh, nhiều quy định liên quan đến cấp phép, tài chính, quy hoạch vùng cấp nước và chia sẻ dữ liệu cũng cần được rà soát, hoàn thiện. Đây là những vấn đề có tác động trực tiếp đến khả năng vận hành ổn định của doanh nghiệp cấp nước cũng như mục tiêu bảo đảm an ninh nguồn nước và mở rộng tỷ lệ người dân được tiếp cận nước sạch.
Đại diện Công ty cấp nước Phú Thọ cho rằng, đối với tiền cấp quyền khai thác nước và khoản thu liên quan đến phần sản lượng vượt, cần tính đúng bản chất hoạt động cấp nước. Doanh nghiệp phải đầu tư mạng lưới, máy móc thiết bị, trạm bơm, bể chứa, hệ thống xử lý, quan trắc, nhân công, quản lý, bán hàng, tài chính và chi phí lãi vay để đưa nước đến khách hàng. Vì vậy, khi xác định chi phí được trừ, cần tính đủ các khoản chi phí hợp lý gắn với toàn bộ quá trình khai thác, xử lý, truyền tải và phân phối nước. Nếu chỉ tính vật liệu, nhân công trực tiếp và khấu hao thiết bị, doanh nghiệp sẽ không được ghi nhận đầy đủ chi phí thực tế đã bỏ ra để phục vụ người dân.

Nếu giấy phép khai thác tài nguyên nước chỉ quy định cứng một mức lưu lượng cố định theo ngày, doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình huống khó xử. Ảnh: Vũ Thị Hoàng Anh
Quy định về vùng cấp nước cũng là nội dung cần sớm có giải pháp tháo gỡ. "Có những khu vực dân cư liền kề hệ thống đường ống hiện hữu, người dân có nhu cầu dùng nước sạch, doanh nghiệp có khả năng cấp nước, nhưng khác địa giới hành chính hoặc chưa có quy hoạch vùng rõ ràng nên việc mở rộng bị ách tắc. Trong khi đó, cấp nước nông thôn, vùng sâu, vùng xa đòi hỏi doanh nghiệp phải tự bỏ vốn đầu tư, vận động người dân đăng ký, khảo sát, thiết kế và kéo dài mạng lưới. Nếu thủ tục vùng cấp nước không linh hoạt, mục tiêu nâng tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch sẽ khó đạt tiến độ" - ông Nguyễn Văn Bút nhấn mạnh.
Không chỉ vướng mắc về cơ chế quy hoạch và phạm vi cấp nước, việc ứng dụng công nghệ trong quản lý, giám sát hoạt động khai thác và cấp nước cũng đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện hạ tầng kết nối dữ liệu giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý. Theo ông Nguyễn Văn Bút, đây là yếu tố quan trọng để vừa nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, vừa hỗ trợ doanh nghiệp chủ động bảo đảm an toàn nguồn nước.
Theo đó, doanh nghiệp cấp nước đã và đang đầu tư hệ thống quan trắc, giám sát lưu lượng, chất lượng nước, truyền dữ liệu về cơ quan quản lý. Tuy nhiên, hạ tầng tiếp nhận dữ liệu của một số cơ quan chưa đồng bộ, khiến việc thực hiện nghĩa vụ báo cáo chưa phát huy đầy đủ hiệu quả. Vì vậy, cần có cơ chế kết nối thống nhất giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý, đồng thời chia sẻ dữ liệu nguồn nước, xả thải, điều tiết hồ chứa, mực nước tối thiểu trên sông để doanh nghiệp chủ động bảo vệ nguồn nước thô.
Công ty CP Cấp nước Phú Thọ kiến nghị Hội Cấp Thoát nước Việt Nam tập hợp đầy đủ vướng mắc của các doanh nghiệp, tổ chức trao đổi chuyên đề với cơ quan quản lý nhà nước và đề xuất hướng dẫn cụ thể về giấy phép khai thác, vùng cấp nước, tính chi phí, tiền cấp quyền, tình huống khẩn cấp và xử lý vi phạm trong hoạt động cấp nước sạch phục vụ dân sinh.
Từ thực tế và những vướng mắc trên có thể thấy trong bối cảnh nhu cầu sử dụng nước sạch ngày càng gia tăng, yêu cầu bảo đảm an ninh nguồn nước và thích ứng với biến đổi khí hậu đang đặt ra nhiều thách thức mới đối với ngành cấp nước. Việc hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng phù hợp với đặc thù của hoạt động cấp nước sinh hoạt không chỉ góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp mà còn tạo nền tảng để duy trì dịch vụ cấp nước an toàn, liên tục và bền vững, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thiết yếu của người dân và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Mai Thanh - Hà Thắm
Những “hành khách” nặng hàng tấn, bay chuyên cơ tới Safari lớn nhất Việt Nam giờ ra sao?
Cần thêm hướng dẫn một số nội dung về định giá nước sạch trong Thông tư 145/2025/TT-BTC
Hải Phòng giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thoát nước và xử lý nước thải
Đọc thêm
Vietnam Water Week 2026: Diễn đàn ngành Nước Việt Nam - Cơ hội hợp tác quốc tế
Diễn ra từ ngày 16–18/9/2026 tại Hà Nội với chủ đề “Chuyển đổi số - tăng cường khả năng thích ứng của ngành Nước trong kỷ nguyên mới”, Vietnam Water Week 2026 đánh dấu năm thứ 5 của một sự kiện đang từng bước khẳng định vị thế, uy tín trong hoạt động chuyên môn của ngành Nước Việt Nam.
Cần thêm hướng dẫn một số nội dung về định giá nước sạch trong Thông tư 145/2025/TT-BTC
Thông tư 145/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính đã bổ sung các hướng dẫn đặc thù khi áp dụng phương pháp định giá chung đối với nước sạch, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động định giá nước. Tuy nhiên, để bảo đảm việc triển khai thống nhất, phù hợp với điều kiện thực tế, một số nội dung cần được trao đổi, hướng dẫn thêm.
Bộ Xây dựng sửa đổi phương pháp định giá dịch vụ thoát nước
Bộ Xây dựng mới ban hành Thông tư số 75/2026/TT-BXD ngày 30/9/2026, sửa đổi, bổ sung phương pháp định giá dịch vụ thoát nước. Thông tư bãi bỏ quy định giới hạn tỷ lệ chi phí sản xuất chung và chi phí quản lý doanh nghiệp; quy định căn cứ xác định hao phí khi chưa có định mức hoặc định mức chưa phù hợp thực tế.
Không thể chuyển đổi số bằng hợp đồng 12 tháng
Tại nhiều địa phương, hợp đồng vận hành thoát nước chỉ kéo dài 12 tháng, khiến doanh nghiệp khó đầu tư công nghệ và tích lũy dữ liệu. Nếu không điều chỉnh cơ chế hợp đồng để tạo điều kiện đầu tư dài hạn, chuyển đổi số dễ dừng ở phần mềm rời rạc và mô hình thí điểm ngắn hạn.
Quản lý ngành Nước không đồng nghĩa phải sở hữu mọi doanh nghiệp
Nhà nước quản lý hoạt động cấp nước từ khai thác nguồn đến giá bán, nhưng có nhất thiết phải sở hữu mọi doanh nghiệp? Từ các tiêu chí cơ cấu lại vốn nhà nước tại Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg, việc lựa chọn mô hình sở hữu cần được xem xét gắn với yêu cầu kiểm soát hệ thống cấp nước và khả năng huy động nguồn lực đầu tư.
Vietnam Water Week 2026 và hành trình đưa câu chuyện ngành Nước đến gần công chúng
Từ một sự kiện chuyên ngành, Vietnam Water Week 2026 đã góp phần đưa những vấn đề của ngành Nước đến gần hơn với công chúng. Tuần lễ thu hút sự quan tâm của hơn 30 cơ quan thông tấn, báo chí, qua đó lan tỏa các câu chuyện về chuyển đổi số, an ninh nguồn nước và phát triển bền vững tới cộng đồng.
Ngành Nước miền Nam đối mặt “thách thức kép” về nguồn nước và phát triển đô thị
Biến đổi khí hậu và sự dịch chuyển nhanh chóng của không gian đô thị đang tạo ra những sức ép mới đối với hạ tầng cấp thoát nước miền Nam. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp ngành Nước không chỉ nâng cao năng lực quản trị, làm chủ công nghệ mà còn cần hành lang pháp lý đồng bộ hơn để tháo gỡ các nút thắt hiện thời.
Dữ liệu mở đường cho thoát nước Hà Nội
Những trận mưa đầu tháng 9/2026 đã cho chúng ta thấy dữ liệu đang tham gia trực tiếp vào công tác thoát nước tại Hà Nội. Từ trạm quan trắc, camera đến bản đồ số, thông tin hiện trường được đưa về một đầu mối để theo dõi, vận hành công trình và điều phối lực lượng.
Khi nào dữ liệu tạo ra giá trị?
Doanh nghiệp cấp nước ngày càng sở hữu nhiều dữ liệu từ SCADA, GIS, đồng hồ thông minh, cảm biến và các hệ thống giám sát. Nhưng dữ liệu chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuyển hóa thành quyết định, hiệu quả vận hành và năng lực quản trị tốt hơn.