Chuyển đổi số là con đường sống còn của ngành Nước Việt Nam

15/01/2026 16:37

Trong bối cảnh nguồn nước suy giảm, chi phí vận hành ngày càng gia tăng và yêu cầu về chất lượng dịch vụ không ngừng nâng cao, ngành Cấp Thoát nước Việt Nam đang đứng trước một ngã rẽ mang tính quyết định. Chuyển đổi số không chỉ là xu thế công nghệ mà còn là điều kiện tồn tại và phát triển bền vững của toàn Ngành.

Ngành Nước trước ngưỡng giới hạn của mô hình truyền thống

Trong suốt nhiều thập kỷ, ngành Cấp Thoát nước Việt Nam đã hoàn thành một sứ mệnh có ý nghĩa xã hội sâu sắc là đưa nước sạch đến từng hộ dân, từng khu công nghiệp và từng đô thị. Theo Bộ Xây dựng, đến nay tỷ lệ người dân đô thị được sử dụng nước sạch đã đạt khoảng 95%, với tổng công suất các nhà máy nước trên cả nước đạt xấp xỉ 12,6 triệu m3/ngày đêm. Đây là kết quả của quá trình đầu tư liên tục, bền bỉ và nỗ lực đổi mới của các doanh nghiệp ngành Nước trong nhiều năm qua.

Chuyển đổi số là con đường sống còn của ngành nước Việt Nam - Ảnh 1.

Chuyển đổi số không còn là một lựa chọn mang tính cải tiến, mà đã trở thành con đường tất yếu để ngành Nước thích ứng và tồn tại.

Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, các kết quả đạt được đang đứng trước những thách thức nhất định do những hạn chế của mô hình quản lý và vận hành truyền thống. Tài nguyên nước có xu hướng suy giảm cả về trữ lượng và chất lượng dưới tác động của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và biến đổi khí hậu. Theo một số nghiên cứu chuyên ngành, mực nước ngầm tại một số đô thị lớn, trong đó có Hà Nội, có dấu hiệu giảm trung bình khoảng 4 - 6% mỗi năm do khai thác kéo dài, khiến một số địa phương từng bước xem xét chuyển sang khai thác nguồn nước mặt, đi kèm với yêu cầu đầu tư và xử lý kỹ thuật cao hơn.

Song song với thách thức về tài nguyên, hiệu quả vận hành hệ thống cấp nước cũng đang chịu nhiều sức ép. Theo số liệu tổng hợp của Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA), tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch tại các đô thị hiện vẫn dao động quanh mức 16 đến 17%. Điều này đồng nghĩa với việc mỗi năm một lượng lớn nước sạch cùng nguồn lực tài chính bị thất thoát khỏi hệ thống, làm gia tăng chi phí sản xuất và hạn chế khả năng tái đầu tư của doanh nghiệp.

Trong khi đó, chi phí điện năng, hóa chất xử lý và nhân công vận hành liên tục tăng theo biến động của thị trường và yêu cầu kỹ thuật ngày càng cao. Trái lại, giá nước và phí dịch vụ cấp nước lại chịu sự điều tiết chặt chẽ nhằm bảo đảm an sinh xã hội, theo các quy định hiện hành về sản xuất và cung cấp nước sạch. Áp lực chi phí tăng trong khi nguồn thu bị khống chế đang đặt các doanh nghiệp cấp thoát nước trước bài toán tài chính ngày càng khó khăn.

Nếu không nâng cao năng suất và hiệu quả quản trị, ngành Nước khó tránh khỏi vòng xoáy chi phí tăng nhưng giá không tăng, từ đó bào mòn chất lượng dịch vụ và năng lực phát triển dài hạn. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số không còn là một lựa chọn mang tính cải tiến, mà đã trở thành con đường tất yếu để ngành Nước thích ứng và phát triển bền vững.

Chuyển đổi số là điều kiện tồn tại và phát triển bền vững

Theo lãnh đạo VWSA, chuyển đổi số trong ngành Cấp Thoát nước không thể chỉ hiểu là việc đầu tư phần mềm hay thiết bị mới. Bản chất của quá trình này nằm ở sự thay đổi căn bản phương thức quản trị, từ quản lý dựa trên báo cáo thủ công và kinh nghiệm sang quản lý dựa trên dữ liệu thời gian thực. Khi hệ thống được số hóa bằng bản đồ mạng lưới (GIS), dữ liệu lưu lượng và áp lực được cập nhật liên tục, doanh nghiệp cấp nước mới có khả năng "nhìn thấy" toàn bộ trạng thái vận hành của mình.

Thực tiễn cho thấy, khi dữ liệu được thu thập đầy đủ và phân tích kịp thời, tình trạng thất thoát nước có thể được xác định cụ thể theo từng khu vực và từng thời điểm, thay vì chỉ dừng lại ở các ước tính tổng hợp. Các dấu hiệu rò rỉ cũng có thể được phát hiện sớm thông qua những biến động bất thường về áp lực và lưu lượng, hạn chế việc chỉ phát hiện sự cố sau khi có phản ánh từ người dân. Đây là hướng tiếp cận đang được một số doanh nghiệp cấp nước quy mô lớn tại Việt Nam triển khai trong quá trình hiện đại hóa công tác quản lý mạng lưới, như tại TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai và một số địa phương khác.

Chuyển đổi số là con đường sống còn của ngành nước Việt Nam - Ảnh 2.

Nhiều doanh nghiệp cấp nước lớn tại Việt Nam đã đi tiên phong trong chuyển đổi số.

Cùng với đó, vận hành trạm bơm và nhà máy xử lý nước được tối ưu hóa dựa trên nhu cầu thực tế và biểu giá điện, giúp giảm đáng kể chi phí năng lượng. Công tác sửa chữa và bảo trì từng bước chuyển từ xử lý sự cố sang bảo trì dự báo, qua đó kéo dài tuổi thọ tài sản và nâng cao độ tin cậy của hệ thống. Đây chính là bước chuyển từ vận hành bị động sang quản trị chủ động, mang tính nền tảng cho phát triển bền vững của ngành Nước.

Trước yêu cầu của thực tiễn, nhiều doanh nghiệp cấp nước lớn tại Việt Nam đã đi tiên phong trong chuyển đổi số. Điển hình như Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn (SAWACO) đã xây dựng Trung tâm Vận hành Hệ thống Cấp nước SWOC và Trung tâm Dữ liệu (Data Center) để giám sát mạng lưới theo thời gian thực, ứng dụng Big Data và AI vào phân tích dữ liệu vận hành, đồng thời triển khai trạm quan trắc trực tuyến và đồng hồ nước thông minh nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng dịch vụ.

Bên cạnh đó, Công ty Nước sạch Hà Nội (HAWACOM) cũng tích cực học hỏi và trao đổi kinh nghiệm chuyển đổi số với các doanh nghiệp đầu ngành, cho thấy nhận diện chung về tính cấp thiết của chuyển đổi số trong hoạt động cấp nước đô thị.

Ngoài ra, nhiều đơn vị cấp nước khác cũng đang áp dụng công nghệ SCADA, GIS và thiết bị đo nước thông minh, minh chứng chuyển đổi số không chỉ là xu thế mà đã trở thành yêu cầu thực tiễn để đảm bảo hiệu quả và bền vững.

Chuyển đổi số là đầu tư sinh lợi và nền tảng phát triển bền vững

Hiệu quả kinh tế của chuyển đổi số trong ngành Nước đã được khẳng định thông qua thực tiễn vận hành. Theo các phân tích của VWSA, đối với những doanh nghiệp quy mô lớn, tỷ lệ thất thoát nước giảm được có thể tương đương với hàng chục tỷ đồng tiết kiệm mỗi năm. Khoản tiết kiệm này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả tài chính mà còn tạo nguồn lực để tái đầu tư nâng cấp hạ tầng và công nghệ.

Cũng theo tính toán của VWSA, ở góc độ dịch vụ công, chuyển đổi số mở ra một chuẩn mực mới trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp cấp nước và khách hàng. Khi người dân có thể theo dõi lượng nước tiêu thụ, nhận cảnh báo rò rỉ trong hộ gia đình, thanh toán và tương tác trực tuyến, tính minh bạch và tiện lợi trở thành nền tảng của niềm tin xã hội đối với ngành Nước. Đây cũng là yêu cầu ngày càng rõ nét trong các chương trình phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam.

Trên bình diện quốc gia, chuyển đổi số là điều kiện quan trọng để ngành Nước hội nhập vào các chương trình tài chính xanh, ODA và các mô hình đối tác công tư. Theo các báo cáo của Ngân hàng Thế giới, nhu cầu đầu tư cho hạ tầng cấp nước và xử lý nước thải tại Việt Nam trong những thập kỷ tới được ước tính lên tới hàng chục tỷ đô la Mỹ, trong đó năng lực quản trị dữ liệu và minh bạch vận hành là tiêu chí quan trọng để tiếp cận nguồn vốn dài hạn.

Xuất phát từ nhận thức đó, VWSA xác định chuyển đổi số là một trụ cột chiến lược của nhiệm kỳ mới, với trọng tâm là thúc đẩy chuẩn hóa dữ liệu ngành, khuyến nghị cơ chế tài chính cho số hóa và từng bước xây dựng nền tảng hạ tầng dữ liệu dùng chung.

Trong bối cảnh thế kỷ XXI, khi nước vẫn là tài nguyên quý giá nhưng ngày càng chịu nhiều sức ép, dữ liệu chính là sức mạnh để bảo vệ, quản lý và phát triển tài nguyên đó. Chuyển đổi số vì vậy chính là con đường sống còn để ngành Nước của Việt Nam bước vào tương lai một cách vững chắc và bền vững, lãnh đạo VWSA khẳng định.

Mai Thanh

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thúc đẩy chuyển đổi số và tối ưu năng lượng trong ngành Nước

Thúc đẩy chuyển đổi số và tối ưu năng lượng trong ngành Nước

Ngành Nước Việt Nam đang đứng trước áp lực chuyển đổi mạnh mẽ khi đồng thời đối mặt với tình trạng khan hiếm tài nguyên, chi phí năng lượng gia tăng và yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả vận hành và hướng tới phát triển bền vững.

Doanh nghiệp ngành Nước tìm giải pháp kiểm soát tồn thu trong thanh toán không dùng tiền mặt

Doanh nghiệp ngành Nước tìm giải pháp kiểm soát tồn thu trong thanh toán không dùng tiền mặt

Từ ghi chỉ số, thông báo tiền nước đến nhắc nợ và tạm ngừng cấp nước, các doanh nghiệp cấp nước đang từng bước số hóa quy trình quản lý tồn thu, giảm phụ thuộc vào xử lý thủ công và nâng cao chất lượng chăm sóc khách hàng.

Diễn đàn 18/05/2026
Đào tạo nhân lực ngành Nước trước yêu cầu mới của đô thị

Đào tạo nhân lực ngành Nước trước yêu cầu mới của đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, chuyển đổi số và biến đổi khí hậu đặt ra nhiều yêu cầu mới với hạ tầng đô thị, tọa đàm tại Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM nhấn mạnh việc đổi mới đào tạo nhân lực ngành Nước, tăng kết nối giữa nhà trường, doanh nghiệp, VWSA và đẩy mạnh truyền thông để đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

Diễn đàn 15/05/2026
Đào tạo nhân lực ngành Nước không thể chỉ dừng ở giảng đường

Đào tạo nhân lực ngành Nước không thể chỉ dừng ở giảng đường

Ngành Nước đang cần một lớp nhân lực không chỉ vững chuyên môn, đủ năng lực thực hành, thích ứng công nghệ và đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Từ góc nhìn của cơ sở đào tạo, câu chuyện nhân lực vì thế không thể chỉ giải trong giảng đường mà cần sự gắn kết chặt hơn giữa nhà trường, doanh nghiệp và tổ chức nghề nghiệp.

Diễn đàn 13/05/2026
Nhân lực ngành Nước: tiếng nói từ thực tiễn

Nhân lực ngành Nước: tiếng nói từ thực tiễn

Từ giảng đường đến doanh nghiệp, từ đơn vị cấp nước đến nhà cung ứng thiết bị, câu chuyện nhân lực ngành Nước đang hiện lên với nhiều yêu cầu mới. Những chia sẻ từ thực tiễn cho thấy, muốn ngành Nước đi đường dài, đào tạo phải đổi mới và con người phải được chuẩn bị sớm hơn, sát hơn với nhu cầu thật của nghề.

Diễn đàn 11/05/2026
Đổi mới quản lý chất thải rắn, hướng tới đô thị xanh - thông minh

Đổi mới quản lý chất thải rắn, hướng tới đô thị xanh - thông minh

Ngày 08/5/2026, tại Hà Nội, Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội phối hợp Viện Nghiên cứu Đô thị và Phát triển hạ tầng tổ chức tọa đàm “Quản lý chất thải rắn và vệ sinh môi trường trong đô thị xanh, thông minh”. Với 23 tham luận, tọa đàm tập trung đề xuất giải pháp về quản lý chất thải rắn và vệ sinh môi trường.

Diễn đàn 09/05/2026
Chi hội Cấp Thoát nước miền Bắc tìm giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu

Chi hội Cấp Thoát nước miền Bắc tìm giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu

Độ mặn tăng, chất lượng nước thô giảm cùng các hiện tượng thời tiết cực đoan đã tạo sức ép lớn lên ngành Cấp Thoát nước. Từ thực tiễn tại Hải Phòng và nhiều địa phương phía Bắc, các chuyên gia, doanh nghiệp ngành Nước đã thảo luận nhằm tìm ra giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu (BĐKH) từ công nghệ, quản trị cho đến chính sách.

Diễn đàn 09/05/2026
Vietnam Water Week 2026: Định hình mô hình xúc tiến thương mại mới cho ngành Cấp Thoát nước trong kỷ nguyên số

Vietnam Water Week 2026: Định hình mô hình xúc tiến thương mại mới cho ngành Cấp Thoát nước trong kỷ nguyên số

Khi mô hình triển lãm truyền thống bộc lộ những hạn chế, việc Hội Cấp Thoát nước Việt Nam tiếp tục triển khai Vietnam Water Week 2026 theo hướng kết hợp triển lãm trực tiếp và trực tuyến được xem là bước đi phù hợp, nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại và khả năng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp trong kỷ nguyên số hóa.

Đô thị miền núi cần một cách tiếp cận mới trong quản lý ngập lụt

Đô thị miền núi cần một cách tiếp cận mới trong quản lý ngập lụt

Từ trường hợp tỉnh Cao Bằng, PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương cho rằng đô thị miền núi cần chuyển từ tư duy thoát nước bằng công trình cứng sang “sống cùng nước”, tổ chức phát triển theo lưu vực, dành không gian điều tiết và dùng dữ liệu để chủ động ứng phó ngập lụt.

Top