Nhiệt độ
Kiểm soát ngập úng, phục hồi các dòng sông ở Hà Nội góp phần tăng cường khả năng thích ứng biến đổi khí hậu
LTS: Trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa nhanh, ngập úng đang được xem là một trong những điểm nghẽn lớn đối với phát triển bền vững của Hà Nội. Việc kiểm soát ngập úng và phục hồi các dòng sông ở Hà Nội sẽ góp phần tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH).
1. Khái quát về ngập úng của Hà Nội trong thời gian vừa qua
1.1. Ngập úng đô thị đang là một trong những điểm nghẽn của Hà Nội
Trong nhiều năm gần đây, ngập úng đô thị đã và đang trở thành một trong những thách thức của quá trình phát triển đô thị Hà Nội. Mặc dù Thành phố đã đầu tư nhiều dự án thoát nước quy mô lớn, đặc biệt là Dự án thoát nước Hà Nội giai đoạn I và II cùng hệ thống đầu mối Yên Sở, nhưng tình trạng ngập úng vẫn chưa được cải thiện tại nhiều khu vực khi xảy ra các trận mưa lớn.
Ngập úng không chỉ gây ảnh hưởng đến việc đi lại, sinh hoạt của người dân mà còn làm gia tăng thiệt hại kinh tế, tác động tiêu cực tới môi trường đô thị và làm suy giảm khả năng chống chịu của thành phố trước các hiện tượng khí hậu cực đoan. Trong bối cảnh BĐKH và tốc độ đô thị hóa nhanh, ngập úng đang được xem là một trong những điểm nghẽn lớn đối với phát triển bền vững của Hà Nội. [1] [2] [3]
1.2. Những thay đổi của ngập úng đô thị trong khoảng 20 năm gần đây
So với khoảng 20 năm trước, đặc điểm ngập úng đô thị tại Hà Nội đã có nhiều thay đổi do tác động của BĐKH và quá trình đô thị hóa. Các trận mưa cực đoan hiện nay thường có cường độ rất lớn, tập trung trong thời gian ngắn và trên phạm vi rộng, khiến lượng nước tập trung nhanh vào hệ thống thoát nước. Đợt mưa do hoàn lưu bão số 10 và 11 năm 2025 ghi nhận lượng mưa rất lớn tại nhiều khu vực như Ô Chợ Dừa (509 mm), Hai Bà Trưng (414 mm), Thường Tín (307 mm) và Hoàng Liệt (291 mm) trong chưa đầy một ngày, vượt xa tiêu chuẩn thiết kế của hệ thống thoát nước khu vực trung tâm Hà Nội (khoảng 310 mm trong hai ngày). Bên cạnh đó, phạm vi ngập úng không còn tập trung ở khu vực nội đô cũ mà đã mở rộng sang nhiều khu đô thị mới, nơi hệ thống thoát nước chưa được kết nối đồng bộ với mạng lưới chung của thành phố hoặc hạ tầng đầu mối chưa được đầu tư hoàn chỉnh. Những thay đổi này cho thấy nguy cơ ngập úng ngày càng gia tăng và đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh quy hoạch, tiêu chuẩn thiết kế và phương thức quản lý thoát nước phù hợp với bối cảnh mới [1] [3]

Hình 1: Bản đồ vị trí các điểm úng ngập tại Hà Nội ngày 30/9/2025 trong đợt bão số 10 (Bualoi). Ảnh: thoatnuochanoi.vn
1.3. Ngập úng và suy thoái hệ thống sông, kênh, hồ, mặt nước trong đô thị
Trong nhiều năm, vấn đề ngập úng thường được tiếp cận dưới góc độ kỹ thuật thoát nước. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy ngập úng đô thị có mối quan hệ rất chặt chẽ với tình trạng suy thoái của hệ thống sông, hồ và mặt nước tự nhiên.
Các dòng sông đô thị như Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ, Sét và nhiều kênh, mương hở khác tại Hà Nội không chỉ có chức năng tiếp nhận và tiêu thoát nước mưa mà còn đóng vai trò điều tiết thủy văn và duy trì cân bằng sinh thái cho đô thị.
Khi các dòng sông bị ô nhiễm, san lấp, lấn chiếm, lòng sông bị thu hẹp hoặc suy giảm khả năng dẫn nước, năng lực tiêu thoát nước của toàn hệ thống cũng bị ảnh hưởng. Đồng thời, việc suy giảm diện tích ao hồ và các vùng trũng tự nhiên cũng làm mất đi khả năng lưu giữ nước mưa, khiến lượng nước tập trung nhanh hơn vào hệ thống cống thoát nước. [1] [4]
Vì vậy, kiểm soát ngập úng và phục hồi các dòng sông, hồ, mặt nước cần được xem là hai nhiệm vụ có mối quan hệ hữu cơ trong chiến lược phát triển đô thị thích ứng với BĐKH.
2. Một số nguyên nhân gây ngập úng đô thị
2.1. Tác động của biến đổi khí hậu
BĐKH là một trong những nguyên nhân quan trọng làm gia tăng nguy cơ ngập úng đô thị tại Hà Nội. Những năm gần đây, các trận mưa cực đoan có xu hướng xuất hiện với tần suất cao hơn, cường độ lớn hơn và tập trung trong thời gian ngắn, khiến lưu lượng nước mưa vượt quá khả năng tiêu thoát của hệ thống hiện hữu. Đợt hoàn lưu bão số 10 và 11 năm 2025 là minh chứng rõ nét khi lượng mưa tại nhiều khu vực vượt tiêu chuẩn thiết kế của hệ thống thoát nước đô thị. Trong khi đó, phần lớn công trình thoát nước hiện nay được thiết kế dựa trên chuỗi số liệu khí tượng thủy văn lịch sử, nên dần không còn phù hợp trước các diễn biến khí hậu ngày càng cực đoan. Vì vậy, việc quy hoạch, thiết kế và nâng cấp hệ thống thoát nước cần chuyển từ cách tiếp cận dựa trên số liệu quá khứ sang lồng ghép các kịch bản BĐKH, nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hạ tầng đô thị trước các hiện tượng thời tiết cực đoan. [1] [2]
2.2. Đô thị hóa nhanh và quá trình bê tông hóa bề mặt
Quá trình đô thị hóa nhanh trong những năm gần đây đã làm gia tăng đáng kể diện tích các bề mặt không thấm nước như đường giao thông, bãi đỗ xe, khu dân cư và các công trình xây dựng. Điều này làm giảm khả năng thấm tự nhiên của nước mưa xuống đất, đồng thời làm tăng hệ số dòng chảy mặt và rút ngắn thời gian tập trung nước về hệ thống thoát nước. Vì vậy, với cùng một lượng mưa, lưu lượng đỉnh và áp lực lên hệ thống thoát nước hiện nay lớn hơn nhiều so với trước đây, làm gia tăng nguy cơ ngập úng, đặc biệt tại các khu vực đô thị phát triển nhanh nhưng hạ tầng thoát nước chưa được đầu tư đồng bộ hoặc chưa kết nối hoàn chỉnh với hệ thống chung của thành phố.
2.3. Suy giảm không gian chứa nước tự nhiên
Sự suy giảm các không gian chứa nước tự nhiên là một trong những nguyên nhân quan trọng làm gia tăng ngập úng tại Hà Nội. Trong khoảng 50 năm qua, diện tích ao, hồ của thành phố đã giảm khoảng 50%, trong khi mật độ xây dựng tăng gấp 3 - 4 lần. Nhiều ao hồ, vùng trũng và kênh mương tự nhiên đã bị san lấp hoặc thu hẹp để phục vụ phát triển đô thị, làm giảm đáng kể khả năng lưu giữ và điều tiết nước mưa [1] [2].
Theo Quy hoạch thoát nước Thủ đô Hà Nội, tổng diện tích hồ điều hòa cần đạt khoảng 5.405 ha, nhưng đến nay mới có khoảng 1.010 ha, tương đương 18,7% nhu cầu quy hoạch [1].
Sự thiếu hụt không gian trữ nước khiến phần lớn nước mưa nhanh chóng tập trung vào hệ thống cống và các tuyến sông tiêu, làm gia tăng nguy cơ quá tải và ngập úng khi xảy ra mưa lớn. Vì vậy, việc bảo vệ các hồ, ao hiện hữu, phục hồi vùng trũng tự nhiên và đầu tư bổ sung hồ điều hòa theo quy hoạch cần được coi là một trong những giải pháp ưu tiên nhằm nâng cao khả năng thích ứng của đô thị trước BĐKH.
2.4. Hệ thống thoát nước chưa đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị
Nhằm giải quyết tình trạng ngập úng của Thủ đô, năm 2013 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch thoát nước Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 tại Quyết định số 725/QĐ-TTg. Theo quy hoạch này, hệ thống thoát nước Hà Nội được tổ chức theo ba vùng tiêu chính gồm vùng Tả Đáy, vùng Hữu Đáy và vùng Bắc Hà Nội với tổng diện tích lưu vực khoảng 125.400 ha. Hệ thống được quy hoạch gồm 48 trạm bơm tiêu thoát nước với tổng công suất khoảng 1.315 m³/s cùng mạng lưới hồ điều hòa, sông, kênh và công trình đầu mối đồng bộ.
Trong hơn 10 năm qua, Hà Nội đã đầu tư nhiều công trình thoát nước quan trọng như Dự án thoát nước Hà Nội giai đoạn I, II, cụm công trình đầu mối Yên Sở, trạm bơm Yên Nghĩa và các dự án cải tạo sông, hồ, góp phần cải thiện khả năng tiêu thoát nước của khu vực nội đô. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện Quy hoạch thoát nước Thủ đô vẫn còn chậm so với yêu cầu phát triển đô thị. Nhiều công trình đầu mối và các lưu vực tiêu thoát nước lớn chưa được đầu tư đồng bộ, dẫn đến năng lực tiêu thoát nước chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Theo báo cáo của Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng, tại vùng Tả Đáy, công suất các công trình thoát nước đô thị hiện mới đạt khoảng 164,5 m³/s, tương đương khoảng 20% công suất theo quy hoạch. Bên cạnh đó, sự thiếu đồng bộ giữa hệ thống thoát nước đô thị với hệ thống thủy lợi, cùng với việc kết nối hạ tầng giữa các khu vực chưa hoàn chỉnh, đã làm giảm hiệu quả vận hành của toàn hệ thống và gia tăng nguy cơ ngập úng khi xảy ra mưa lớn [1]
2.5. Hạn chế trong quy hoạch và quản lý hệ thống thoát nước
Bên cạnh những hạn chế về hạ tầng kỹ thuật, công tác quy hoạch và quản lý hệ thống thoát nước vẫn còn nhiều bất cập. Việc lồng ghép quản lý rủi ro thiên tai và các kịch bản BĐKH trong quy hoạch đô thị, quy hoạch thoát nước và quy hoạch sử dụng đất chưa thực sự đầy đủ. Nhiều thông số thiết kế vẫn dựa trên chuỗi số liệu khí tượng thủy văn lịch sử, trong khi xu thế mưa cực đoan đã có nhiều thay đổi, làm giảm mức độ phù hợp của hệ thống hiện hữu. Bên cạnh đó, công tác quản lý thoát nước còn phân tán giữa nhiều cơ quan và đơn vị, trong khi nước mưa vận động theo lưu vực tự nhiên chứ không theo ranh giới hành chính. Sự thiếu đồng bộ trong phối hợp quy hoạch, đầu tư, vận hành, chia sẻ dữ liệu và ứng dụng công nghệ số đã ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý và khả năng ứng phó với ngập úng đô thị. Vì vậy, cần từng bước chuyển từ quản lý theo địa giới hành chính sang quản lý theo lưu vực, đồng thời tăng cường chia sẻ dữ liệu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý hệ thống thoát nước.

Một đoạn đường phố tại Hà Nội ngập sâu sau cơn mưa lớn. Ảnh: Nguyễn Đăng Khoa
3. Một số giải pháp kiểm soát ngập úng cho Hà Nội
3.1. Chuyển đổi tư duy từ thoát nước sang quản lý nước đô thị
Trong nhiều thập kỷ, tư duy chủ đạo của công tác chống ngập là làm thế nào để thu gom và thoát nước mưa ra khỏi đô thị nhanh nhất có thể. Cách tiếp cận này phù hợp trong giai đoạn đầu phát triển đô thị khi diện tích xây dựng còn thấp và các không gian tự nhiên vẫn còn tương đối lớn.
Trước đây, chống ngập chủ yếu theo tư duy "thoát nước nhanh". Tuy nhiên, trong điều kiện BĐKH và đô thị hóa, cách tiếp cận này bộc lộ nhiều hạn chế do làm gia tăng lưu lượng đỉnh và nguy cơ quá tải hệ thống. Xu hướng hiện nay là chuyển sang quản lý tổng hợp nước đô thị, trong đó nước mưa được lưu giữ, điều tiết và sử dụng như một nguồn tài nguyên. [2]
3.2. Áp dụng mô hình thoát nước bền vững (SUDS)
Mô hình thoát nước bền vững (SUDS) hướng tới việc mô phỏng chu trình nước tự nhiên thông qua các giải pháp giữ nước tại nguồn, tăng khả năng thấm, kéo dài thời gian lưu giữ và giảm lưu lượng đỉnh trước khi nước chảy vào hệ thống thoát nước chung. Các giải pháp như mái xanh, vườn mưa, rãnh thấm, mặt phủ thấm nước và hồ sinh học không chỉ góp phần giảm ngập mà còn cải thiện cảnh quan và môi trường đô thị. [2].
3.3. Áp dụng mô hình Thành phố bọt biển (Sponge City)
Nếu SUDS chủ yếu được áp dụng ở quy mô công trình và khu vực thì mô hình Thành phố bọt biển (Sponge City) mở rộng cách tiếp cận này ra quy mô toàn đô thị. Theo định nghĩa được đề cập trong các tài liệu gần đây, Thành phố bọt biển là mô hình đô thị có khả năng hấp thụ, lưu giữ, làm sạch và tái sử dụng nước mưa giống như một miếng bọt biển tự nhiên. [1]
Mục tiêu của mô hình là giảm dòng chảy mặt, tăng khả năng thấm nước, tăng không gian lưu trữ nước và giảm thiểu rủi ro ngập úng trong điều kiện thời tiết cực đoan. Kết hợp đầu tư xây dựng hạ tầng xám (mạng lưới thoát, trạm bơm cưỡng bức quy mô lớn, hồ, bể ngầm chưa nước……với việc áp dụng mô hình thành phố bọt biển được xem là một trong những hướng tiếp cận phù hợp đối với Hà Nội trong bối cảnh BĐKH ngày càng gia tăng.
3.4. Thiết lập các vùng ngập nước có kiểm soát
Trong nhiều năm, mục tiêu của công tác chống ngập thường hướng tới việc loại bỏ hoàn toàn hiện tượng ngập trong đô thị. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc chống ngập tuyệt đối là rất khó khăn, đặc biệt trong bối cảnh BĐKH làm gia tăng các trận mưa cực đoan vượt quá tiêu chuẩn thiết kế của hệ thống hạ tầng kỹ thuật.
Do đó, nhiều quốc gia đã chuyển sang cách tiếp cận quản lý rủi ro ngập úng, trong đó chấp nhận cho một số khu vực cho phép ngập tạm thời có kiểm soát nhằm bảo vệ các khu vực trọng yếu của đô thị. Các không gian này được thiết kế để có thể lưu giữ nước trong thời gian ngắn rồi thoát dần ra hệ thống thoát nước của đô thị sau khi mưa kết thúc. Có thể tận dụng công viên, quảng trường, sân thể thao hoặc các vùng trũng tự nhiên làm không gian lưu giữ nước tạm thời trong các trận mưa cực đoan.
Nguyên tắc của giải pháp này là tạo thêm không gian chứa nước thay vì chỉ tập trung tăng kích thước cống hoặc công suất trạm bơm.
Đối với Hà Nội, việc nghiên cứu xác định các vùng trũng tự nhiên, công viên đô thị, hồ điều hòa và các khu vực ven sông có khả năng tiếp nhận nước tạm thời trong các trận mưa cực đoan là một hướng tiếp cận cần được xem xét trong dài hạn. [1][2]
3.5. Phát triển hệ thống hồ điều hòa và bể chứa ngầm
Hồ điều hòa từ lâu đã là một bộ phận quan trọng của hệ thống thoát nước đô thị Hà Nội, góp phần điều tiết dòng chảy và giảm ngập úng. Tuy nhiên, trong điều kiện quỹ đất ngày càng hạn chế, việc xây dựng mới các hồ điều hòa quy mô lớn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, bên cạnh việc bảo vệ, cải tạo và phát triển hệ thống hồ điều hòa theo quy hoạch đã được phê duyệt, nhiều thành phố trên thế giới đã nghiên cứu và áp dụng giải pháp xây dựng các bể điều tiết nước mưa ngầm nhằm nâng cao khả năng lưu giữ và điều tiết nước mưa.
Bể điều tiết nước mưa ngầm (Underground Stormwater Storage Tank) hoạt động theo nguyên lý lưu giữ tạm thời một phần nước mưa trong thời gian xảy ra mưa lớn và đỉnh lũ, sau đó bơm hoặc xả dần vào hệ thống thoát nước khi lưu lượng giảm xuống, qua đó cắt giảm lưu lượng đỉnh và hạn chế quá tải hệ thống. Ưu điểm của giải pháp này là không chiếm dụng diện tích mặt đất, có thể bố trí dưới công viên, quảng trường, bãi đỗ xe hoặc các không gian công cộng, đồng thời góp phần giảm áp lực cho hệ thống cống và hạn chế ngập cục bộ. Đối với Hà Nội, đây là giải pháp có tiềm năng nghiên cứu và áp dụng tại khu vực nội đô, đặc biệt trong phạm vi vành đai 2 và vành đai 3, nơi quỹ đất hạn chế và khó mở rộng hệ thống cống hoặc xây dựng mới các hồ điều hòa. [1] [2] [3]
3.6. Chuyển đổi số trong quản lý ngập úng đô thị
Cùng với đầu tư hạ tầng kỹ thuật, chuyển đổi số đang trở thành một công cụ quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý ngập úng đô thị. Nhiều thành phố trên thế giới đã ứng dụng công nghệ số để giám sát, dự báo và hỗ trợ vận hành hệ thống thoát nước theo thời gian thực, qua đó giảm thiểu thiệt hại do ngập lụt.
Đối với Hà Nội, cần ưu tiên xây dựng cơ sở dữ liệu GIS và số hóa hệ thống thoát nước, bao gồm mạng lưới cống, hồ điều hòa, trạm bơm và các công trình đầu mối; đồng thời tích hợp dữ liệu quan trắc mưa, mực nước và ngập úng theo thời gian thực để xây dựng mô hình dự báo ngập, bản đồ ngập và hệ thống cảnh báo sớm. Đây là nền tảng để nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống thoát nước và tăng cường khả năng ứng phó với các hiện tượng mưa cực đoan.
Trong dài hạn, Hà Nội có thể hướng tới xây dựng mô hình đô thị thông minh về nước (Smart Water City), trong đó dữ liệu về lượng mưa, ngập úng, thủy văn và vận hành các công trình thoát nước được tích hợp trên một nền tảng quản lý thống nhất, phục vụ công tác điều hành và ra quyết định. [1] [2]
3.7. Hoàn thiện thể chế và tăng cường quản lý theo lưu vực
Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy kiểm soát ngập úng đô thị không thể chỉ dựa vào các giải pháp công trình mà cần được hỗ trợ bởi một hệ thống thể chế và cơ chế quản lý đồng bộ. Bên cạnh đầu tư hạ tầng, cần hoàn thiện chính sách, cơ chế tài chính và mô hình tổ chức quản lý nhằm bảo đảm sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan quản lý, đơn vị vận hành và chính quyền địa phương.
Một trong những định hướng quan trọng là từng bước chuyển từ quản lý theo địa giới hành chính sang quản lý theo lưu vực thoát nước, phù hợp với quy luật tự nhiên của dòng chảy và tăng cường sự phối hợp giữa các khu vực thượng lưu, trung lưu và hạ lưu. Đồng thời, cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện Quy hoạch thoát nước Thủ đô, huy động đa dạng các nguồn lực đầu tư, hoàn thiện cơ chế tài chính cho dịch vụ thoát nước và khuyến khích hợp tác công - tư (PPP) trong phát triển hạ tầng. Cùng với đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý để tạo điều kiện áp dụng các giải pháp thoát nước tiên tiến, góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát ngập úng và tăng cường khả năng thích ứng với BĐKH [1] [2].
4. Phục hồi các dòng sông ở Hà Nội - cách tiếp cận tổng hợp
4.1. Vai trò của các dòng sông trong hệ thống hạ tầng xanh đô thị Hà Nội
Hà Nội được hình thành và phát triển gắn liền với hệ thống sông ngòi phong phú như sông Hồng, Đuống, Nhuệ, Đáy, Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ và Sét. Không chỉ mang giá trị lịch sử, văn hóa và cảnh quan, các dòng sông còn là một bộ phận quan trọng của hệ thống hạ tầng xanh và hạ tầng nước đô thị, thực hiện đồng thời nhiều chức năng như tiêu thoát nước mưa, điều hòa dòng chảy, cải thiện vi khí hậu, duy trì hệ sinh thái và tạo không gian công cộng. Vì vậy, các dòng sông cần được nhìn nhận như một thành phần của hạ tầng đô thị đa chức năng, có vai trò quan trọng trong kiểm soát ngập úng và nâng cao khả năng thích ứng của Hà Nội trước BĐKH. [2] [4]
4.2. Thực trạng suy thoái các dòng sông đô thị
Trong quá trình đô thị hóa, nhiều dòng sông của Hà Nội đã bị suy giảm đáng kể về chất lượng nước, khả năng dẫn dòng và chức năng sinh thái. Nhiều đoạn sông trở thành nơi tiếp nhận nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất chưa được xử lý triệt để; đồng thời tình trạng bồi lắng, lấn chiếm hành lang bảo vệ sông, thu hẹp mặt cắt dòng chảy và bê tông hóa bờ sông đã làm suy giảm khả năng tự làm sạch và điều tiết tự nhiên của hệ thống sông. Các sông nội đô như Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ và Sét là những ví dụ điển hình cho tình trạng suy thoái kéo dài trong nhiều năm. Thực trạng này không chỉ làm giảm giá trị cảnh quan và môi trường đô thị mà còn làm suy giảm năng lực tiêu thoát nước, gia tăng nguy cơ ngập úng và hạn chế khả năng thích ứng của thành phố trước BĐKH.

Làm sạch sông Tô Lịch. Ảnh: Đào Quang Minh
4.3. Tại sao phục hồi sông là một giải pháp chống ngập?
Trong nhiều trường hợp, kiểm soát ngập úng và phục hồi các dòng sông là hai nội dung có mối quan hệ chặt chẽ và cần được xem xét đồng thời. Một dòng sông được quản lý và phục hồi theo hướng bền vững sẽ phát huy các chức năng tự nhiên như lưu giữ và điều tiết dòng chảy, tăng khả năng tiêu thoát nước cho lưu vực và giảm áp lực cho hệ thống cống thoát nước đô thị. Ngược lại, khi sông bị bồi lắng, ô nhiễm hoặc thu hẹp mặt cắt, khả năng dẫn dòng và tiêu thoát nước sẽ suy giảm, làm gia tăng nguy cơ ngập úng trong khu vực đô thị. Vì vậy, phục hồi các dòng sông không chỉ nhằm cải thiện chất lượng môi trường và cảnh quan mà còn là một giải pháp hạ tầng xanh quan trọng, góp phần nâng cao khả năng chống chịu của đô thị trước BĐKH. [2] [4]
4.4. Các nhóm giải pháp phục hồi sông tại Hà Nội
Việc phục hồi các dòng sông tại Hà Nội cần được thực hiện theo cách tiếp cận tổng hợp, kết hợp giữa giải pháp kỹ thuật, sinh thái và quản lý.
Các nhóm giải pháp chính gồm:
(a) Kiểm soát nguồn thải
Đây là điều kiện tiên quyết để phục hồi chất lượng nước sông. Cần đẩy nhanh tiến độ đầu tư hệ thống thu gom nước thải, nhà máy xử lý nước thải và các tuyến cống bao nhằm hạn chế tình trạng nước thải chảy trực tiếp vào sông. [1] [4]
(b) Khôi phục dòng chảy
Một số dòng sông hiện nay thiếu dòng chảy bổ cập, dẫn đến khả năng tự làm sạch rất thấp. Việc nghiên cứu bổ sung nguồn nước sạch, duy trì dòng chảy môi trường và tăng cường khả năng lưu thông nước là giải pháp quan trọng trong quá trình phục hồi sông. [4]
(c) Phục hồi hành lang sinh thái ven sông
Cần bảo vệ và mở rộng hành lang xanh ven sông, kết hợp cây xanh, mặt nước, đường đi bộ và không gian công cộng. Đây là giải pháp giúp tăng khả năng thấm nước, cải thiện cảnh quan và nâng cao chất lượng sống đô thị. [4]
(d) Hạn chế cống hóa các dòng sông
Xu hướng hiện đại trên thế giới là phục hồi các dòng sông tự nhiên thay vì tiếp tục cống hóa. Các tài liệu quản lý nhà nước gần đây cũng khuyến nghị hạn chế cống hóa sông, suối, kênh mương trong đô thị nhằm duy trì khả năng điều tiết nước và thích ứng với BĐKH. [1]
(e) Quản lý tổng hợp theo lưu vực
Các dòng sông cần được quản lý trên phạm vi toàn lưu vực thay vì từng đoạn riêng lẻ. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các hệ thống sông Nhuệ - Đáy, Tô Lịch - Kim Ngưu và các lưu vực thoát nước liên tỉnh. [1] [4]
4.5. Một số định hướng lớn đối với Hà Nội trong thời gian tới
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và quá trình đô thị hóa tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, Hà Nội cần từng bước chuyển từ tư duy "xử lý ngập" sang "quản lý tổng hợp nước đô thị", coi nước mưa là một nguồn tài nguyên cần được lưu giữ, điều tiết và sử dụng hiệu quả thay vì chỉ tập trung tiêu thoát nhanh.
Kiểm soát ngập úng cần được thực hiện theo cách tiếp cận tổng hợp, kết hợp hài hòa giữa giải pháp công trình và phi công trình; giữa hạ tầng xám và hạ tầng xanh; giữa đầu tư xây dựng với quản lý vận hành và chuyển đổi số. Trong đó, cần ưu tiên bảo vệ và phát triển không gian nước đô thị, phục hồi các dòng sông, hồ và vùng trũng tự nhiên; từng bước áp dụng các mô hình quản lý nước đô thị tiên tiến như SUDS và Thành phố bọt biển; đồng thời tăng cường quản lý theo lưu vực và lồng ghép các kịch bản biến đổi khí hậu trong quy hoạch và phát triển đô thị.
Đây là những định hướng quan trọng nhằm nâng cao khả năng chống chịu của Hà Nội trước các hiện tượng thời tiết cực đoan, hướng tới xây dựng một đô thị xanh, thích ứng với BĐKH và phát triển bền vững. [1] [2] [4]
5. Kết luận
Ngập úng đô thị tại Hà Nội đang chịu tác động đồng thời của BĐKH, quá trình đô thị hóa nhanh và sự suy giảm của hệ thống sông hồ, mặt nước tự nhiên. Mặc dù Thành phố đã đầu tư nhiều công trình thoát nước quan trọng, nhưng các trận mưa cực đoan ngày càng gia tăng đang đặt ra yêu cầu phải đổi mới tư duy và cách tiếp cận trong công tác quản lý nước đô thị.
Trong bối cảnh đó, việc kiểm soát ngập úng không thể chỉ dựa vào mở rộng đầu tư xây dựng mạng lưới cống thoát nước hoặc xây dựng thêm các trạm bơm, mà cần kết hợp đồng bộ giữa giải pháp công trình và phi công trình; giữa hạ tầng xám và hạ tầng xanh; giữa đầu tư xây dựng với quản lý vận hành và ứng dụng công nghệ số. Các mô hình như SUDS, Sponge City, vùng ngập có kiểm soát kết hợp đồng bộ việc đầu tư xây dựng hồ điều hòa, bể chứa ngầm, tiếp tục xây mới, cải tạo, nâng cấp mạng lưới thoát nước đang là những hướng tiếp cận phù hợp cần được nghiên cứu áp dụng cho Hà Nội.
Bên cạnh đó, phục hồi các dòng sông cần được xem là một bộ phận của chiến lược kiểm soát ngập úng và thích ứng BĐKH. Các dòng sông không chỉ là nơi tiêu thoát nước mà còn là thành phần quan trọng của hệ thống hạ tầng xanh đô thị, góp phần điều hòa dòng chảy, cải thiện môi trường và nâng cao khả năng chống chịu của thành phố. . [1] [2] [3] [4]
PGS. TS. Nguyễn Hồng Tiến
Nguyên Cục trưởng Cục Hạ tầng kỹ thuật, Bộ Xây dựng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng (2026), Báo cáo Tổng quan hệ thống thoát nước mưa, thoát nước thải và xử lý nước thải sinh hoạt tại Việt Nam, phục vụ Tọa đàm "Ngập úng đô thị: Hiện trạng, nguyên nhân và giải pháp".
[2] Nguyễn Hồng Tiến (2026), "Giải quyết điểm nghẽn úng ngập đô thị – Hành động khẩn cấp – Quy hoạch bền vững".
[3] Nguyễn Hồng Tiến, Tăng tốc giải quyết úng ngập trước mùa mưa 2026 Báo Nhân Dân Cuối tuần 1/5/2026.
[4] An Nhiên, "Phục hồi nguồn nước không thể chậm hơn thực tiễn", Tạp chí Cấp thoát nước Việt Nam 30/4/2026
Kiểm soát ngập úng, phục hồi các dòng sông ở Hà Nội góp phần tăng cường khả năng thích ứng biến đổi khí hậu
Khánh Hoà: Tìm giải pháp bảo đảm nước sinh hoạt cho khu vực miền núi Tây Ninh Hòa
Dòng nước nghĩa tình nối dài hành trình tri ân từ Bắc vào Nam nhân ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7
Thiết bị tách dầu mỡ - Giải pháp hiệu quả bảo vệ hệ thống thoát nước đô thị
CLB Lãnh đạo nữ ngành Nước Việt Nam: Nhìn lại chặng đường hai năm hoạt động
Chi hội Cấp Thoát nước miền Trung - Tây Nguyên bước vào nhiệm kỳ xanh và số
Ngành nước miền Trung - Tây Nguyên tăng tốc chuyển đổi số, thích ứng biến đổi khí hậu
Đọc thêm
Thiết bị tách dầu mỡ - Giải pháp hiệu quả bảo vệ hệ thống thoát nước đô thị
Xuất phát từ chính yêu cầu thực tiễn, Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội đã phát triển công nghệ thiết bị tách dầu mỡ kiểm soát ô nhiễm từ đầu nguồn, mở ra hướng tiếp cận hiệu quả, bền vững cho quản lý hệ thống thoát nước đô thị.
Chuyển đổi số: Hành trình “đánh thức” dữ liệu tại Cấp nước nông thôn Nam Định
Trong bối cảnh người dân nông thôn vẫn quen với giao dịch thủ công, việc thay đổi thói quen của hàng vạn khách hàng là thách thức không nhỏ. Tuy nhiên, chỉ sau 90 ngày, Công ty Cổ phần Cấp nước nông thôn Nam Định đã hoàn thành hơn 168.000 hợp đồng điện tử, tạo dấu ấn trong hành trình chuyển đổi số.
Công nghệ mới mở thêm lựa chọn cho đầu tư và vận hành ngành Nước
Từ bản sao kỹ thuật số, cải tạo bể lắng, vật liệu PVC-O đến thiết bị truyền dữ liệu gắn trên đồng hồ cơ được giới thiệu tại hội thảo đều hướng tới nâng cao hiệu quả vận hành. Tuy nhiên, để các giải pháp đi vào thực tế, cần giải quyết đồng thời bài toán dữ liệu, chi phí đầu tư, tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ sở pháp lý.
Công nghệ khử mặn nước và ứng dụng
LTS: Trong bối cảnh nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm do biến đổi khí hậu và gia tăng nhu cầu sử dụng, công nghệ khử mặn đang trở thành giải pháp quan trọng bảo đảm an ninh nguồn nước. Bài viết giới thiệu các công nghệ khử mặn phổ biến, xu hướng phát triển và tiềm năng ứng dụng trong cấp nước sinh hoạt, sản xuất tại Việt Nam.
Từ những sáng kiến nhỏ đến lời giải cho bài toán lớn của ngành Nước
Chuyển đổi số, tối ưu vận hành, phát triển xanh và nâng cao chất lượng dịch vụ đang là những bài toán lớn đặt ra cho ngành Nước của Việt Nam. Thông qua Giải thưởng Cán bộ trẻ ngành Nước Việt Nam năm 2026, nhiều sáng kiến xuất phát từ thực tiễn cho thấy vai trò ngày càng nổi bật của đội ngũ cán bộ trẻ.
Quản lý thoát nước an toàn tại các đô thị Việt Nam thích ứng với biến đổi khí hậu
Hiện nay, chúng ta chưa có khái niệm thống nhất về "quản lý thoát nước an toàn", dẫn đến thiếu một khung quản lý tích hợp làm cơ sở cho xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn và tổ chức thực hiện. Vì vậy, nghiên cứu này nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đề xuất về quản lý thoát nước an toàn phù hợp với điều kiện Việt Nam
Phòng thử nghiệm SAWACO đạt Chứng nhận thử nghiệm thành thạo quốc tế về phân tích chất lượng nước
Phòng thử nghiệm - Phòng Quản lý chất lượng nước thuộc Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn (SAWACO) vừa được cấp Chứng nhận thử nghiệm thành thạo quốc tế sau khi đạt kết quả đánh giá “Satisfied” tại Chương trình thử nghiệm thành thạo liên phòng quốc tế 2025.
SAWACO được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 với hệ sinh thái công nghệ thông minh ngành nước
Tại Lễ biểu dương “Thành tựu tác động vì Việt Nam số – Vietnam I4 Impact Awards 2026” diễn ra ngày 30/5/2026 tại Hà Nội, Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn TNHH MTV (SAWACO) là một trong 97 đơn vị tiêu biểu trên cả nước được vinh danh.
Công ty CP Cấp nước Hải Phòng: Ứng dụng công nghệ, bảo đảm cấp nước an toàn cho người dân
Sự phát triển nhanh của các khu đô thị và công nghiệp tại Hải Phòng đặt ra yêu cầu ngày càng cao về nguồn nước sạch ổn định, an toàn. Đón đầu nhu cầu ấy, Công ty CP Cấp nước Hải Phòng đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào vận hành, góp phần bảo đảm an sinh và nâng cao chất lượng sống người dân.