Nhiệt độ
Khi nào dữ liệu tạo ra giá trị?
Doanh nghiệp cấp nước ngày càng sở hữu nhiều dữ liệu từ SCADA, GIS, đồng hồ thông minh, cảm biến và các hệ thống giám sát. Nhưng dữ liệu chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuyển hóa thành quyết định, hiệu quả vận hành và năng lực quản trị tốt hơn.
Với chủ đề "Khi nào dữ liệu tạo ra giá trị?", Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam đã có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Thanh Phong, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại N.T.P, thành viên HĐQT nhiều doanh nghiệp cấp nước, xoay quanh hiệu quả đầu tư công nghệ, quản trị dữ liệu và những giá trị mà chuyển đổi số có thể mang lại cho doanh nghiệp ngành Nước.

Ông Nguyễn Thanh Phong
PV: Thưa ông, các doanh nghiệp cấp nước hiện nay đầu tư ngày càng nhiều vào SCADA, GIS, đồng hồ thông minh, cảm biến và các hệ thống giám sát. Nhưng theo ông, đâu là ranh giới giữa việc "có thêm công nghệ" và một khoản đầu tư công nghệ thực sự tạo ra giá trị cho doanh nghiệp?
Ông Nguyễn Thanh Phong: Tôi tham gia ngành Nước ở cả hai vai trò, vừa là nhà cung cấp giải pháp công nghệ, vừa là nhà đầu tư tại nhiều doanh nghiệp cấp nước. Khi nhìn từ cả hai phía, tôi thấy ranh giới giữa việc "có thêm công nghệ" và một khoản đầu tư thực sự tạo ra giá trị không nằm ở bản thân công nghệ, mà ở chỗ sau khi hệ thống vận hành, doanh nghiệp có đưa ra những quyết định khác đi hay không.
Tôi thường dùng một phép thử đơn giản. Nếu ngắt hoàn toàn hệ thống đó trong một thời gian mà không ai nhận ra, hoặc công việc vẫn diễn ra bình thường, thì hệ thống đó chưa thực sự trở thành một khoản đầu tư tạo ra giá trị.
Đầu tư công nghệ thường đi qua ba cấp độ. Thứ nhất là đo được, tức doanh nghiệp lắp thiết bị thông minh, đồng hồ đọc từ xa, data logger hay van điều khiển. Thứ hai là nhìn được, tức có màn hình, biểu đồ, GIS để theo dõi. Thứ ba là hành động được, nghĩa là có người chịu trách nhiệm, có quy trình xử lý và có chỉ tiêu gắn với dữ liệu. Giá trị kinh tế thực sự bắt đầu xuất hiện ở cấp độ thứ ba.
Một đơn vị có thể lắp hàng trăm điểm giám sát áp lực và lưu lượng. Nhưng nếu chưa phân vùng mạng lưới, chưa có đội xử lý rò rỉ kịp thời sau cảnh báo thì các điểm giám sát mới chỉ đang tạo ra dữ liệu. Cũng những thiết bị đó, nếu gắn với quy trình theo dõi, có người trực và có chỉ tiêu cho đội vận hành thì kết quả có thể khác, đây chính là lúc dữ liệu chuyển hoá thành giá trị. Vì vậy, thiết bị phải đi cùng con người và quy trình.
PV: Trong một doanh nghiệp cấp nước, dữ liệu được hình thành từ rất nhiều khâu như sản xuất, mạng lưới đến kinh doanh và khách hàng. Theo ông, điều gì đang cản trở doanh nghiệp kết nối những dữ liệu đó thành một bức tranh đủ tin cậy để phục vụ điều hành và ra quyết định?
Ông Nguyễn Thanh Phong: Nhiều doanh nghiệp cho rằng họ đang thiếu một phần mềm tích hợp. Theo tôi, đó chưa phải là rào cản lớn nhất. Phần khó hơn nằm ở quản trị dữ liệu.
Trở ngại thứ nhất, cũng là vấn đề thường bị xem nhẹ, là doanh nghiệp chưa có một hệ thống định danh và danh mục dùng chung thống nhất. Tôi lấy ví dụ, cùng một điểm đấu nối, bộ phận kinh doanh gọi bằng mã khách hàng, bộ phận quản lý mạng lưới gọi bằng mã điểm đấu nối, còn bộ phận kỹ thuật lại gọi bằng số hiệu đồng hồ. Những dữ liệu này được quản lý trên các hệ thống phần mềm khác nhau nhưng hầu như chưa có sự liên kết để quy về một định danh hay một hồ sơ thống nhất.
Đây trước hết là câu chuyện quản trị, không phải câu chuyện công nghệ thông tin. Nếu quy hoạch dữ liệu đúng ngay từ đầu, chi phí có thể rất thấp. Nhưng nếu không có lộ trình từ sớm, đến khi phải chỉnh sửa sau nhiều năm thì vừa tốn kém, vừa dễ phát sinh sai sót.
Trở ngại thứ hai là dữ liệu trong ngành lâu nay phần lớn được tạo ra để phục vụ báo cáo, chứ chưa hẳn để phục vụ điều hành. Số liệu báo cáo thường được tổng hợp theo tháng, đã được làm tròn và trải qua nhiều bước rà soát trước khi trình. Trong khi đó, dữ liệu phục vụ điều hành cần gần với thời gian thực và phải giữ được mức độ chi tiết cần thiết. Hai loại dữ liệu này khác nhau về bản chất.
Nếu lãnh đạo yêu cầu một hệ thống phục vụ điều hành nhưng dữ liệu bên dưới vẫn được cung cấp theo tư duy làm báo cáo, thì rất khó khai thác hệ thống để đưa ra quyết định kịp thời.
Trở ngại thứ ba là chưa xác định rạch ròi ai chịu trách nhiệm đối với từng loại dữ liệu trong doanh nghiệp. Khi một con số không chính xác, đôi khi câu trả lời vẫn là "phần mềm nó thế". Trong khi đó, theo tôi, mỗi dữ liệu quan trọng cần có một đơn vị hoặc một người chịu trách nhiệm cụ thể về tính chính xác của nó, cũng giống như mỗi tài sản đều phải có người quản lý.
Trở ngại cuối cùng là hệ quả của cách chúng ta mua sắm trong nhiều năm. Mỗi dự án lựa chọn một nhà thầu, mỗi nhà thầu lại có thể đưa vào một nền tảng riêng, thậm chí là nền tảng khép kín, khiến dữ liệu khó trao đổi với các hệ thống khác. Sau nhiều năm, doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình trạng có nhiều hệ thống nhưng các hệ thống lại không "nói chuyện" được với nhau.
Đây là điều tôi mong các doanh nghiệp cấp nước lưu ý. Ngay từ hồ sơ mời thầu, cần xác định rõ dữ liệu thuộc sở hữu của chủ đầu tư, đồng thời yêu cầu hệ thống có giao diện lập trình mở và sử dụng định dạng trao đổi theo chuẩn. Làm được điều này ngay từ đầu sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm đáng kể chi phí tích hợp trong những năm sau.

Ông Nguyễn Thanh Phong: dữ liệu tạo ra giá trị khi nó không chỉ giúp doanh nghiệp hiểu mình tốt hơn, mà còn làm thay đổi cách nhà đầu tư và tổ chức tín dụng đánh giá doanh nghiệp đó.
PV. Doanh nghiệp với nguồn lực hữu hạn, theo ông, doanh nghiệp nên dựa vào nguyên tắc nào để xác định thứ tự ưu tiên, và đầu tư công nghệ nên được đặt ở đâu trong bài toán phân bổ vốn đó?
Ông Nguyễn Thanh Phong: Theo tôi, không nên tách công nghệ thành một hạng mục ngân sách riêng, bởi như vậy rất dễ đặt nó vào thế cạnh tranh với cải tạo mạng lưới hay mở rộng công suất. Công nghệ nên là một phần cấu thành trong từng hạng mục đầu tư, chẳng hạn giảm thất thoát đã bao gồm phân vùng, đồng hồ và thiết bị ghi dữ liệu, còn đầu tư nhà máy đã bao gồm điều khiển và giám sát.
Về thứ tự ưu tiên, trước hết phải giải quyết vấn đề cốt lõi. Tôi thường nhìn theo bốn bước gồm an toàn cấp nước, doanh thu, chi phí và trải nghiệm khách hàng. Trình tự có thể khác nhau ở từng doanh nghiệp, nhưng an toàn cấp nước vẫn phải được đặt lên hàng đầu.
Khi so sánh các phương án đầu tư, tôi thường nhìn vào chi phí để thu hồi thêm một mét khối nước so với chi phí để sản xuất thêm một mét khối nước. Nếu giảm thất thoát có chi phí thấp hơn đầu tư thêm công suất thì đây là phương án đáng ưu tiên. Hiện nay, giảm thất thoát ngày càng là bài toán dữ liệu, không chỉ là cải tạo hạ tầng.
Một nguyên tắc khác là chia nhỏ chương trình đầu tư thành từng giai đoạn và đặt ra các mốc kiểm chứng. Mỗi giai đoạn phải chứng minh được kết quả có thể đo đếm trước khi tiếp tục cấp vốn, thay vì triển khai kéo dài nhiều năm rồi mới đánh giá hiệu quả.
Bên cạnh đó, tôi cho rằng nền tảng dữ liệu và an toàn thông tin cần được chuẩn bị sớm. Hai hạng mục này khó quy đổi ngay thành tỷ suất hoàn vốn, nhưng nếu thiếu chúng thì các khoản đầu tư phía sau có thể trở nên tốn kém hơn rất nhiều. Đây chính là phần móng của quá trình chuyển đổi số.
PV: Dưới góc nhìn của một nhà đầu tư và người tham gia quản trị doanh nghiệp, theo ông cần đo hiệu quả của khoản đầu tư đó bằng những chỉ số nào và trong khoảng thời gian bao lâu để biết công nghệ thực sự tạo thêm giá trị?
Ông Nguyễn Thanh Phong: Trước khi nói đến chỉ số, doanh nghiệp cần thống nhất được số liệu hiện trạng trước khi triển khai. Nếu không có đường cơ sở đủ tin cậy thì sau này rất khó xác định phần cải thiện đến từ công nghệ hay từ các yếu tố khác.
Theo tôi, có thể nhìn hiệu quả qua ba nhóm chỉ số. Nhóm thứ nhất là vận hành: hệ thống có thực sự được sử dụng, dữ liệu có ổn định và cảnh báo có dẫn tới hành động thực tế hay không.
Nhóm thứ hai là kinh tế. Với thất thoát, ngoài tỷ lệ phần trăm nên nhìn thêm lượng nước mất trên mỗi đấu nối; với năng lượng, có thể đo điện năng tiêu thụ trên mỗi mét khối nước; với kinh doanh, theo dõi doanh thu thu hồi nhờ phát hiện đồng hồ bất thường, đấu nối trái phép hay sai sót hóa đơn.
Nhóm thứ ba là quản trị. Bao lâu doanh nghiệp hoàn tất thu tiền nước và có báo cáo tháng? Bao nhiêu quyết định đầu tư được đưa ra trên cơ sở dữ liệu thay vì chủ yếu dựa vào kinh nghiệm? Độ lệch giữa dự báo và thực tế ra sao? Đây là nhóm chỉ số ít được chú ý hơn nhưng phản ánh khá rõ năng lực quản trị.
Không nên kỳ vọng mọi dự án công nghệ tạo ra hiệu quả tài chính ngay trong vài tháng đầu. Quan trọng là doanh nghiệp phải có thời gian quan sát đủ dài, đồng thời chấp nhận thay đổi quy trình, phân rõ trách nhiệm và sử dụng dữ liệu một cách nhất quán.

Đô thị phát triển nhanh kéo theo yêu cầu ngày càng lớn về một hệ thống cấp nước được quản trị hiệu quả, minh bạch và dựa trên dữ liệu.
PV: Khi dữ liệu vận hành ngày càng đầy đủ, minh bạch và có thể kiểm chứng, theo ông điều đó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến cách ngân hàng và nhà đầu tư đánh giá doanh nghiệp cấp nước? Năng lực quản trị bằng dữ liệu có thể trở thành một lợi thế trong tiếp cận vốn hay không?
Ông Nguyễn Thanh Phong: Theo tôi là có. Ngành Nước có nhu cầu tương đối ổn định và dòng tiền dài hạn, phù hợp với nguồn vốn dài hạn. Tuy nhiên, nhà đầu tư vẫn thận trọng trước hai nhóm rủi ro. Một là rủi ro về cơ chế giá, doanh nghiệp không thể hoàn toàn tự quyết. Hai là rủi ro thông tin, và đây là phần doanh nghiệp có thể chủ động cải thiện bằng quản trị dữ liệu.
Trong quá trình thẩm định, những vấn đề thường gây nhiều bất định là tình trạng thực của tài sản mạng lưới, tỷ lệ thất thoát và chất lượng công nợ khách hàng. Nhà đầu tư không nhất thiết e ngại một con số chưa tốt, điều họ lo hơn là con số đó không thể kiểm chứng.
Một doanh nghiệp có lịch sử dữ liệu đầy đủ, quy trình quản trị rõ ràng và thông tin đáng tin cậy sẽ giúp giảm rủi ro trong quá trình thẩm định. Điều này có thể tác động trực tiếp đến cách định giá dự án, điều kiện vay và chi phí vốn.
Theo tôi, đây là một giá trị quan trọng của chuyển đổi số. Dữ liệu không chỉ giúp doanh nghiệp vận hành tốt hơn mà còn có thể làm thay đổi cách ngân hàng và nhà đầu tư nhìn nhận giá trị của doanh nghiệp.
Nói cách khác, dữ liệu tạo ra giá trị khi nó không chỉ giúp doanh nghiệp hiểu mình tốt hơn, mà còn làm thay đổi cách nhà đầu tư và tổ chức tín dụng đánh giá doanh nghiệp đó.
Trân trọng cảm ơn Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam đã dành cho tôi cơ hội chia sẻ. Kính chúc Đại hội VII của Hội Cấp Thoát nước Việt Nam và Vietnam Water Week 2026 thành công tốt đẹp.
PV: Trân trọng cảm ơn ông về những chia sẻ sâu sắc và thực tiễn dành cho Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam!
Mai Thanh (thực hiện)
Khi nào dữ liệu tạo ra giá trị?
Hoa hậu Nguyễn Thanh Hà trở thành Đại sứ sự kiện Vietnam Water Week 2026
Van AAV và ống lõi xoắn PVC-U Nhựa Tiền Phong: Hai mảnh ghép hoàn thiện cho hệ thống thoát của công trình hiện đại
Cán bộ trẻ ngành Nước: Lực lượng tiên phong trong chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo
Dữ liệu bước vào lõi vận hành ngành Nước
Đọc thêm
Dữ liệu bước vào lõi vận hành ngành Nước
Dữ liệu đang đi sâu vào các khâu cốt lõi của hoạt động cấp nước, từ kiểm soát chất lượng, định lượng hóa chất đến quản lý mạng lưới và hỗ trợ ra quyết định. Những ứng dụng được chia sẻ tại hội thảo cho thấy công nghệ số ngày càng gắn chặt với thực tiễn vận hành của doanh nghiệp.
Quyết định 40/2026/QĐ-TTg: Cơ cấu vốn ngành Nước không chỉ là câu chuyện tỷ lệ sở hữu
Quyết định 40/2026/QĐ-TTg đưa hoạt động khai thác, sản xuất, cung cấp nước sạch và thoát nước vào nhóm Nhà nước nắm giữ từ 65% vốn điều lệ trở lên. Với đặc thù sở hữu đa dạng của doanh nghiệp ngành Nước, tiêu chí mới đặt ra nhiều vấn đề cần được nghiên cứu trong quá trình xây dựng phương án cơ cấu vốn thời gian tới.
CLB Lãnh đạo nữ ngành Nước Việt Nam: Nhìn lại chặng đường hai năm hoạt động
Phiên họp lần thứ II năm 2026 của CLB Lãnh đạo nữ ngành Nước Việt Nam đã ghi dấu những kết quả nổi bật trong hành trình phát triển và tri ân các nữ cán bộ tiêu biểu.
Để Luật Cấp, Thoát nước trở thành động lực phát triển của ngành
Không chỉ hoàn thiện khung pháp lý, Luật Cấp, Thoát nước cần trở thành động lực thúc đẩy phát triển ngành trong giai đoạn mới. Theo PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến, điều đó chỉ có thể đạt được khi dự thảo Luật giải quyết được những vướng mắc từ thực tiễn và tạo cơ chế đủ mạnh cho quản lý,đầu tư, vận hành và khai thác.
Sinh viên UAH đưa giải pháp cấp thoát nước bền vững vào đồ án tốt nghiệp
Mới đây, Khoa Kỹ thuật Hạ tầng đô thị, Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM (UAH) có 47 sinh viên tham gia bảo vệ đồ án tốt nghiệp. Trong đó, 24 đồ án thuộc chuyên ngành Cấp Thoát nước. Các đồ án đã tập trung giải quyết các yêu cầu về cấp nước, thoát nước, xử lý và tái sử dụng nước trong quá trình phát triển đô thị.
VWSA tham dự Triển lãm và Hội nghị Quốc tế ngành Nước Borneo (BIWWEC 2026) tại Malaysia
Từ ngày 15 - 18/7, bà Hạ Thanh Hằng, Phó Chủ tịch Hội Cấp Thoát Nước Việt Nam (VWSA) đã tham dự Triển lãm và Hội nghị Quốc tế ngành Nước Borneo (Borneo International Water & Wastewater Exhibition and Conference – BIWWEC 2026).
Luật Cấp, Thoát nước cần tháo gỡ các điểm nghẽn trong đầu tư và vận hành
Quản lý rủi ro, khai thác nước trong tình huống khẩn cấp, cơ chế giá, đầu tư PPP, cấp nước nông thôn và bàn giao tài sản thoát nước là những nội dung được đề nghị quy định rõ trong Luật Cấp, Thoát nước. Các ý kiến tập trung vào những vướng mắc đang phát sinh trực tiếp trong quy hoạch, đầu tư, quản lý và cung cấp dịch vụ…
Doanh nghiệp cấp nước khó xử trước giới hạn lưu lượng
Quản lý lưu lượng khai thác nước là cần thiết để bảo vệ tài nguyên. Tuy nhiên, nhu cầu dùng nước biến động theo thời tiết, sự cố mạng lưới, suy giảm nguồn nước thô hoặc nhu cầu tăng đột biến, buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh vận hành để đảm bảo cấp nước ổn định.
SAWACO: Chung tay bảo vệ nguồn nước sạch
Trước tình trạng khai thác nước ngầm quá mức, việc nâng cao ý thức cộng đồng về sử dụng nước sạch và tiết kiệm đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Xuất phát từ yêu cầu đó, chương trình “SAWACO Xanh - Hành trình bảo vệ nguồn nước” đã được tổ chức nhằm lan tỏa thông điệp bảo vệ nguồn nước và sử dụng nước tiết kiệm.