Nhiệt độ
Doanh nghiệp ngành Nước tìm giải pháp kiểm soát tồn thu trong thanh toán không dùng tiền mặt
Từ ghi chỉ số, thông báo tiền nước đến nhắc nợ và tạm ngừng cấp nước, các doanh nghiệp cấp nước đang từng bước số hóa quy trình quản lý tồn thu, giảm phụ thuộc vào xử lý thủ công và nâng cao chất lượng chăm sóc khách hàng.
Công ty CP Cấp nước Bà Rịa - Vũng Tàu (BWACO) đã chủ trì tổ chức thành công hội thảo trực tuyến chuyên đề "Tối ưu hóa quản lý tồn thu trong giai đoạn thanh toán không dùng tiền mặt". Đây là hội thảo trực tuyến chuyên đề lần thứ năm do BWACO tổ chức, tiếp tục thu hút sự quan tâm của nhiều đơn vị cấp nước trên cả nước.

Chương trình góp phần giúp doanh nghiệp nhìn rõ hơn yêu cầu chuẩn hóa quy trình, nâng cao quản lý khách hàng và kiểm soát tồn thu trong giai đoạn chuyển đổi số.
Kiểm soát dữ liệu từ khâu ghi chỉ số
Từ thực tiễn quản lý hơn 208.000 khách hàng, BWACO chia sẻ cách tiếp cận kiểm soát tồn thu theo toàn bộ chuỗi công đoạn, từ ghi chỉ số, thông báo tiền nước, tổ chức kênh thanh toán, nhắc nợ đến cúp và mở nước. Theo đơn vị này, tồn thu có thể phát sinh ở bất kỳ mắt xích nào nếu thiếu cơ chế kiểm soát.
Trong khâu ghi chỉ số, BWACO sử dụng app ghi thu để nhân viên nhập dữ liệu tại hiện trường. Hệ thống tự động cảnh báo các trường hợp tiêu thụ bất thường như không sử dụng, giảm bất thường, tăng bất thường hoặc tăng đột biến. Khi phát hiện dữ liệu bất thường, nhân viên phải kiểm tra đồng hồ, xác nhận với khách hàng. Trường hợp chưa rõ nguyên nhân, hóa đơn được tạm treo để bộ phận chuẩn thu tiếp tục xử lý.
Cách làm này giúp hạn chế sai lệch ngay từ dữ liệu đầu vào, đồng thời giảm nguy cơ phát sinh khiếu nại sau khi hóa đơn đã được phát hành. Đây là điểm chung được nhiều đơn vị nhấn mạnh, bởi ghi chỉ số chính xác là điều kiện đầu tiên để quản lý hóa đơn, dòng tiền và quan hệ khách hàng.
Công ty Cấp thoát nước Cần Thơ (CANTHOWASSCO) cũng tiếp cận quản lý tồn thu từ dữ liệu ghi chỉ số. Đơn vị này kết hợp ghi chỉ số tại hiện trường bằng điện thoại với ghi chỉ số từ xa. Khi ghi tại nhà khách hàng, hệ thống cảnh báo mức tăng, giảm theo tỷ lệ hoặc theo m3 tiêu thụ. Trường hợp sản lượng tăng, nhân viên phải ghi chú; trường hợp giảm bất thường, hệ thống khóa, yêu cầu kiểm tra lại và chưa cho thanh toán. Với ghi chỉ số từ xa, đơn vị định hướng sử dụng đồng hồ có công nghệ NB-IoT, LoRaWAN hoặc RF; đồng hồ lớn dùng data logger qua 4G hoặc NB-IoT tích hợp vào phần mềm quản lý khách hàng.
Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh (QUAWACO) mang đến một hướng tiếp cận mới khi thử nghiệm AI nhận diện chỉ số từ ảnh chụp đồng hồ từ tháng 4/2026. Kết quả bước đầu cho thấy, với hình ảnh rõ nét, đủ sáng và chụp chính diện, tỷ lệ chỉ số AI đọc trùng khớp với chỉ số công nhân ghi nhập đạt 77,3%. Công ty tiếp tục thử nghiệm, chuẩn hóa yêu cầu chụp ảnh và quy trình đối soát, hướng tới áp dụng chính thức khi độ trùng khớp đạt khoảng 99%.
Với nhóm khách hàng sử dụng sản lượng lớn hoặc phục vụ xây dựng, QUAWACO tăng tần suất kiểm tra, ghi và chốt chỉ số trong tháng. Tùy mức tiêu thụ, khách hàng được chốt sản lượng từ 4 lần, 6 lần, 10 lần trong tháng đến theo dõi hằng ngày đối với trường hợp trên 100.000 m3/tháng. Cách làm này giúp doanh nghiệp có thêm căn cứ đối chiếu, hạn chế rủi ro phát sinh công nợ khi sản lượng biến động bất thường.
Công ty CP Cấp nước Huế (HueWACO) cũng triển khai ghi chỉ số bằng app trên smartphone. Từ thực tế vận hành, đơn vị đã cải tiến chức năng cảnh báo trên app, bổ sung khung cảnh báo, yêu cầu nhập chỉ số xác thực và chụp ảnh xác nhận trong một số trường hợp. Trên hệ thống E-Billing, công ty xây dựng chức năng lập danh sách khách hàng tiêu thụ bất thường, đặc biệt chú trọng những trường hợp tiêu thụ thấp hơn nhiều lần so với bình quân.
Thanh toán số phải đi cùng hỗ trợ khách hàng
Trong thanh toán tiền nước, các đơn vị đều cho thấy xu hướng mở rộng mạnh các kênh không dùng tiền mặt. BWACO sử dụng app chăm sóc khách hàng, SMS và giấy báo theo yêu cầu. Tỷ lệ khách hàng nhận thông báo qua app đạt 84,5%, với 175.781 khách hàng đã cài đặt ứng dụng. Các kênh thanh toán được tổ chức đa dạng, gồm điểm thu hộ, ủy nhiệm thu, mã QR, app, ví điện tử và chuyển khoản.
CANTHOWASSCO đã kết nối trực tiếp với 10 ngân hàng và 8 ví điện tử, đồng thời triển khai thanh toán qua mã QR, website và ứng dụng CTWCare. Theo tham luận của đơn vị, tỷ lệ thanh toán qua đối tác thu hộ đạt 99,8%, thanh toán qua ví và ngân hàng đạt 92,25%, trong khi tỷ lệ tồn thu được kiểm soát ở mức 0,05%.

QUAWACO tổ chức quy trình thông báo và thanh toán tiền nước theo hướng rút ngắn thao tác cho khách hàng.
Tại Quảng Ninh, QUAWACO tổ chức lại quy trình thông báo và thanh toán tiền nước theo hướng rút ngắn thao tác cho khách hàng. Trước đây, việc thông báo chủ yếu qua giấy báo, mất thời gian và phụ thuộc vào việc khách hàng chủ động tra cứu. Hiện nay, thông qua app My QUAWACO, khách hàng có thể nhận thông báo tiền nước, tra cứu hóa đơn và lấy mã QR để thanh toán ngay trong cùng một luồng xử lý.
QUAWACO đặt mục tiêu đến hết năm 2026 đạt 96% hóa đơn thanh toán không dùng tiền mặt. Công ty cũng từng bước giảm các điểm thu tiền mặt truyền thống. Từ 37 điểm thu trực tiếp đầu năm 2025, đến nay còn 13 điểm, giảm 24 điểm, tương đương 65%. Tuy vậy, một số điểm thu vẫn được duy trì, sắp xếp phù hợp để phục vụ nhóm khách hàng chưa có điều kiện tiếp cận công nghệ.
HueWACO cho biết tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt đạt 91,26%. Đơn vị đã ngừng thông báo giấy, chuyển sang thông báo qua app, web, email, Zalo, SMS và ứng dụng Hue-S của TP. Huế. Năm 2025, HueWACO có khoảng 317.000 đồng hồ, tỷ lệ chuyển đổi hợp đồng dịch vụ cấp nước điện tử đạt 65,96% và tỷ lệ khách hàng cài app chăm sóc khách hàng đạt 52,36%.
Tuy nhiên, các tham luận cũng cho thấy thanh toán không dùng tiền mặt không thể chỉ nhìn từ tỷ lệ giao dịch số. Ở nhiều khu vực, khách hàng vẫn còn hạn chế trong tiếp cận công nghệ, chưa quen thanh toán qua app, ví điện tử hoặc ngân hàng. Bên cạnh đó, tình trạng giả mạo nhân viên cấp nước qua điện thoại, Zalo, SMS để yêu cầu thanh toán hoặc cung cấp mã OTP cũng đặt ra yêu cầu tăng cường truyền thông về kênh thanh toán chính thức, giúp khách hàng yên tâm khi giao dịch trực tuyến.

Một phương thức thanh toán của BWACO.
Một nội dung được các đơn vị quan tâm là quy trình nhắc nợ và tạm ngừng cấp nước. BWACO thiết kế lộ trình 16 ngày từ thời điểm ghi chỉ số đến khi áp dụng biện pháp cúp nước. Mỗi mốc đều có người thực hiện, người kiểm soát và lưu vết trên hệ thống. Việc cúp nước được xác định là biện pháp cuối cùng, chỉ thực hiện sau khi các công đoạn trước đã hoàn tất và phải qua 3 cấp phê duyệt.
CANTHOWASSCO sẻ quy trình thông báo quá hạn và cúp, mở nước theo từng loại khách hàng, đặc biệt là nhóm kinh doanh, dịch vụ. Trước khi cúp nước, đơn vị liên hệ khách hàng, ghi nhận cam kết thanh toán. Biện pháp cúp nước chỉ thực hiện khi khách hàng không liên hệ được hoặc không thanh toán đúng hẹn.
HueWACO số hóa quy trình nhắc nợ theo các mốc cụ thể, từ thông báo thời hạn thanh toán, nhắc nợ quá hạn lần một, lần hai, gọi điện nhắc nợ đến duyệt danh sách tạm ngừng cấp nước. Đơn vị cũng ban hành quy định miễn giảm tiền nước trong trường hợp khách hàng gặp sự cố rò rỉ sau đồng hồ, phát sinh số tiền lớn. Cách xử lý này vừa chia sẻ rủi ro với khách hàng, vừa tạo điều kiện thu hồi tiền nước, hạn chế kéo dài công nợ.
Từ các kinh nghiệm được chia sẻ, có thể thấy quản lý tồn thu trong giai đoạn thanh toán không dùng tiền mặt là bài toán tổng hợp giữa công nghệ, quy trình và chăm sóc khách hàng. Công nghệ giúp phát hiện bất thường, tự động hóa thông báo, mở rộng thanh toán và lưu vết xử lý. Nhưng để giảm tồn thu bền vững, doanh nghiệp vẫn cần dữ liệu chính xác, nhân sự bám sát địa bàn và quy trình đủ linh hoạt để xử lý các tình huống dân sinh.
Với tinh thần chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn, hội thảo chuyên đề do BWACO tổ chức, cùng sự đồng hành của Công ty HAWACO Miền Nam đối với các bài tham luận, đã tạo thêm kênh trao đổi nghiệp vụ thiết thực cho các đơn vị cấp nước. Từ những vấn đề vận hành cụ thể, chương trình góp phần giúp doanh nghiệp nhìn rõ hơn yêu cầu chuẩn hóa quy trình, nâng cao quản lý khách hàng và kiểm soát tồn thu trong giai đoạn chuyển đổi số.
Mai Thanh
Doanh nghiệp ngành Nước tìm giải pháp kiểm soát tồn thu trong thanh toán không dùng tiền mặt
BIWASE tái cấu trúc hệ sinh thái cấp nước theo mô hình quản trị hiện đại
Việt Nam - Nhật Bản đẩy mạnh kết nối, mở ra nhiều cơ hội hợp tác trong ngành Nước
An ninh nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long từ Kết luận 26 của Bộ Chính trị
Đọc thêm
Đào tạo nhân lực ngành Nước trước yêu cầu mới của đô thị
Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, chuyển đổi số và biến đổi khí hậu đặt ra nhiều yêu cầu mới với hạ tầng đô thị, tọa đàm tại Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM nhấn mạnh việc đổi mới đào tạo nhân lực ngành Nước, tăng kết nối giữa nhà trường, doanh nghiệp, VWSA và đẩy mạnh truyền thông để đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
Đào tạo nhân lực ngành Nước không thể chỉ dừng ở giảng đường
Ngành Nước đang cần một lớp nhân lực không chỉ vững chuyên môn, đủ năng lực thực hành, thích ứng công nghệ và đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Từ góc nhìn của cơ sở đào tạo, câu chuyện nhân lực vì thế không thể chỉ giải trong giảng đường mà cần sự gắn kết chặt hơn giữa nhà trường, doanh nghiệp và tổ chức nghề nghiệp.
Nhân lực ngành Nước: tiếng nói từ thực tiễn
Từ giảng đường đến doanh nghiệp, từ đơn vị cấp nước đến nhà cung ứng thiết bị, câu chuyện nhân lực ngành Nước đang hiện lên với nhiều yêu cầu mới. Những chia sẻ từ thực tiễn cho thấy, muốn ngành Nước đi đường dài, đào tạo phải đổi mới và con người phải được chuẩn bị sớm hơn, sát hơn với nhu cầu thật của nghề.
Đổi mới quản lý chất thải rắn, hướng tới đô thị xanh - thông minh
Ngày 08/5/2026, tại Hà Nội, Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội phối hợp Viện Nghiên cứu Đô thị và Phát triển hạ tầng tổ chức tọa đàm “Quản lý chất thải rắn và vệ sinh môi trường trong đô thị xanh, thông minh”. Với 23 tham luận, tọa đàm tập trung đề xuất giải pháp về quản lý chất thải rắn và vệ sinh môi trường.
Chi hội Cấp Thoát nước miền Bắc tìm giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu
Độ mặn tăng, chất lượng nước thô giảm cùng các hiện tượng thời tiết cực đoan đã tạo sức ép lớn lên ngành Cấp Thoát nước. Từ thực tiễn tại Hải Phòng và nhiều địa phương phía Bắc, các chuyên gia, doanh nghiệp ngành Nước đã thảo luận nhằm tìm ra giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu (BĐKH) từ công nghệ, quản trị cho đến chính sách.
Vietnam Water Week 2026: Định hình mô hình xúc tiến thương mại mới cho ngành Cấp Thoát nước trong kỷ nguyên số
Khi mô hình triển lãm truyền thống bộc lộ những hạn chế, việc Hội Cấp Thoát nước Việt Nam tiếp tục triển khai Vietnam Water Week 2026 theo hướng kết hợp triển lãm trực tiếp và trực tuyến được xem là bước đi phù hợp, nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại và khả năng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp trong kỷ nguyên số hóa.
Đô thị miền núi cần một cách tiếp cận mới trong quản lý ngập lụt
Từ trường hợp tỉnh Cao Bằng, PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương cho rằng đô thị miền núi cần chuyển từ tư duy thoát nước bằng công trình cứng sang “sống cùng nước”, tổ chức phát triển theo lưu vực, dành không gian điều tiết và dùng dữ liệu để chủ động ứng phó ngập lụt.
Tăng trưởng xanh: Động lực mới cho doanh nghiệp ngành Nước
Trong bối cảnh các yêu cầu về môi trường, phát thải carbon ngày càng khắt khe, tăng trưởng xanh đang chuyển từ xu hướng sang điều kiện bắt buộc. Với ngành Nước – một trong những lĩnh vực chịu tác động lớn nhất từ biến đổi khí hậu, áp lực chuyển đổi xanh không chỉ đến từ bên ngoài mà còn xuất phát từ nhu cầu tự thân.
Đà Nẵng tính chuyện hạ tầng nước cho chặng phát triển mới
Trong định hướng phát triển mới, Đà Nẵng không chỉ mở rộng không gian đô thị mà còn phải nâng tầm hạ tầng cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải. Đó là yêu cầu đi cùng vị thế cửa ngõ ra biển, trung tâm logistics và cực tăng trưởng quan trọng của quốc gia.