Nhiệt độ
Cấp nước an toàn trước yêu cầu đổi mới tư duy quản lý và điều phối
Bảo đảm cấp nước an toàn và chống thất thoát, thất thu nước sạch không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà đã trở thành yêu cầu quản trị tổng hợp, đòi hỏi cơ chế pháp lý rõ ràng, sự vào cuộc của chính quyền và cách tiếp cận mới về nguồn nước, khu vực nông thôn và quản lý số.
Từ thực tiễn triển khai Chương trình Quốc gia bảo đảm cấp nước an toàn (CNAT) và Chương trình chống thất thoát, thất thu nước sạch, nhiều ý kiến của doanh nghiệp và chuyên gia đã cùng chỉ ra những "điểm nghẽn" then chốt hiện nay, đặc biệt là vai trò của chính quyền địa phương, cơ chế cho công trình dự phòng, bài toán thất thoát ở nông thôn, bảo vệ nguồn nước và yêu cầu số hóa quản lý ngành Nước trong giai đoạn mới. Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và doanh nghiệp về các nội dung này.
Ông Bùi Thanh Giang, Tổng Giám đốc (TGĐ) Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn - TNHH MTV (SAWACO): Bảo đảm cấp nước an toàn cần sự tham gia của nhiều bên

TGĐ SAWACO: Cấp nước an toàn bắt buộc phải có sự tham gia và hỗ trợ của các cấp chính quyền
Kinh nghiệm thực tiễn tại TP. HCM cho thấy, khi thành phố đặt mục tiêu bảo đảm 100% hộ dân được sử dụng nước sạch, thì riêng doanh nghiệp cấp nước không thể tự thực hiện được. Đây là một quyết định mang tính chính trị, đòi hỏi sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị. Nếu không có sự vào cuộc của HĐND, UBND, không có các đoàn kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo các địa phương phối hợp, hỗ trợ đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện triển khai công trình, cấp nước bằng xe bồn trong tình huống khó khăn, thì mục tiêu này không thể hoàn thành.
Vì vậy, bảo đảm CNAT bắt buộc phải có sự tham gia và hỗ trợ của các cấp chính quyền. Trong đó, vai trò của cơ quan chỉ đạo, ban chỉ đạo là hết sức quan trọng. Nếu cơ quan chỉ đạo đủ mạnh thì sẽ hỗ trợ rất nhiều cho doanh nghiệp, trước hết là giảm bớt các thủ tục đối với các công trình cấp nước.
Đối với các công trình khai thác nước ngầm dự phòng, nếu không có cơ chế riêng để duy trì thì doanh nghiệp rất khó thực hiện. Trên thực tế, các trạm dự phòng vẫn phải duy trì bảo dưỡng thường xuyên, nhưng lại phát sinh đầy đủ các thủ tục như một trạm khai thác thông thường, từ môi trường, xả thải, đăng ký, cấp phép đến thanh tra, kiểm tra. Điều này cho thấy nếu thiếu sự hỗ trợ từ phía chính quyền đối với các công trình dự phòng, nếu để doanh nghiệp tự xoay xở thì sẽ vượt quá khả năng của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, cần có sự chỉ đạo, phối hợp trong việc miễn, giảm các loại thuế, phí và các nghĩa vụ liên quan đến công trình cấp nước dự phòng. Nếu các công trình này vẫn bị áp dụng cơ chế thuế như công trình khai thác thông thường thì doanh nghiệp cấp nước sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Một vấn đề rất bức xúc hiện nay là công tác bồi thường khi phải di dời các công trình cấp nước. Doanh nghiệp phải bỏ ra khoản chi phí rất lớn, không mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp, coi như là chi phí cho xã hội. Nhiều công trình được đầu tư từ rất sớm, khi hạ tầng giao thông chưa hình thành, nhưng khi giao thông mở rộng thì lại buộc phải di dời mà không được bồi thường thỏa đáng, làm suy kiệt nguồn lực của doanh nghiệp.
Nếu ban chỉ đạo hoạt động hiệu quả, sẽ hỗ trợ rất lớn trong việc lồng ghép nội dung cấp nước ngay từ khâu lập quy hoạch. Cấp nước cần được xem là một nội dung song hành trong quy hoạch xây dựng. Khi có cơ chế phối hợp liên ngành rõ ràng, việc triển khai các công trình phân cấp, công trình bảo đảm an toàn mới có cơ sở thực hiện.
Thực tế cho thấy, nếu không có sự tham gia đầy đủ của các sở, ngành và địa phương, doanh nghiệp cấp nước rất khó khăn, phải tự xoay xở và chạy theo các điều chỉnh phát sinh. Trong bối cảnh hiện nay, ngành Nước còn phải đối mặt với nhiều thách thức mới như chuyển đổi số, ứng dụng CNTT, trong khi nguồn lực để bảo đảm an ninh hạ tầng số là rất lớn và vượt quá khả năng của riêng doanh nghiệp.
Hệ thống cấp nước ngày càng hiện đại, tự động hóa cao nhưng cũng vì vậy mà dễ bị tổn thương khi xảy ra sự cố, với mức độ ảnh hưởng rất lớn. Nếu không có sự hỗ trợ kịp thời từ địa phương thì doanh nghiệp khó có thể ứng phó hiệu quả. Bên cạnh đó, công tác quy hoạch và đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt tại các đô thị lớn và khu dân cư đông đúc, cũng là vấn đề cần được quan tâm đúng mức.
Do đó, vai trò của ban chỉ đạo là hết sức quan trọng. Trước mắt, cần có quy chế phối hợp cụ thể với địa phương, xác định rõ trách nhiệm của từng sở, ngành và quy trình thực hiện để hỗ trợ doanh nghiệp cấp nước, bảo đảm khả năng phản ứng kịp thời và hiệu quả trong mọi tình huống.
Liên quan đến chương trình quốc gia về bảo đảm CNAT giai đoạn tới, ông Bùi Thanh Giang thống nhất với quan điểm coi cấp nước là dịch vụ công thiết yếu. Tuy nhiên, đề nghị cần ghi rõ và làm rõ nội dung này trong các quyết định và chương trình quốc gia. Thực tế hiện nay, khi doanh nghiệp đề xuất cơ chế hỗ trợ, nhiều sở, ngành vẫn còn băn khoăn về việc ngành cấp nước đã được xác định là dịch vụ công thiết yếu hay chưa. Vì vậy, đề xuất Bộ Xây dựng làm rõ khái niệm này để tạo thuận lợi cho việc triển khai trong thực tiễn.
Ông Lưu Văn Cần, Phó TGĐ Công ty CP Cấp Thoát nước Long An: Cấp nước an toàn cần sớm tháo gỡ thủ tục, ưu tiên nguồn nước sinh hoạt và bảo đảm nguồn dự phòng

Phó TGĐ Công ty CP Cấp Thoát nước Long An: Tiếp cận nguồn nước thô đã có nhiều thay đổi và các đơn vị cấp nước đều gặp khó khăn chung.
Công ty Cấp Thoát nước Long An đã nhiều lần trình phương án Kế hoạch CNAT. Tuy nhiên, do quá trình sáp nhập và còn vướng mắc về thủ tục nên đến nay phương án vẫn chưa được thẩm định. Công ty mong muốn sớm được thẩm định để thành lập Ban chỉ đạo và triển khai thực hiện.
Long An cũng chịu tác động chung của biến đổi khí hậu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Trong những năm gần đây, do chu kỳ El Nino, khoảng 4 năm một lần, tình trạng hạn hán kéo dài đã gây nhiều khó khăn cho công tác cấp nước. Vì vậy, doanh nghiệp mong muốn sớm có các quy định về tình huống khẩn cấp, được ban hành kịp thời, để doanh nghiệp tập trung nguồn lực ứng phó trong điều kiện hạn mặn kéo dài và thiếu nguồn nước.
Về tiêu chuẩn nước, hiện nay tiêu chuẩn nước cấp sinh hoạt và nước phục vụ nông nghiệp là khác nhau. Ví dụ, độ mặn đối với nước sinh hoạt được quy định khoảng 250 mg/l, trong khi đối với nước nông nghiệp, dư lượng cho phép có thể lên tới khoảng 1.000 mg/l. Do đó, khi xây dựng và trình phương án vận hành, đặc biệt trong mùa khô hạn, cần có quy trình ưu tiên rõ ràng cho nước cấp sinh hoạt. Các quy hoạch và chỉ thị cần quy định thống nhất, bảo đảm ưu tiên 100% cho nước sinh hoạt, nhằm tránh chồng chéo và khó khăn trong vận hành khi độ mặn và nguồn nước tại các đập biến động.
Hiện nay, cách tiếp cận nguồn nước thô đã có nhiều thay đổi và các đơn vị cấp nước đều gặp khó khăn chung. Đối với Công ty Cấp nước Long An, hiện phải mua nguồn nước thô từ nhà máy nước vùng, với khoảng cách dẫn nước từ 30 đến 40 km. Điều này đòi hỏi phải có các quy định cụ thể về bảo vệ nguồn nước, ưu tiên về mặt bằng và bảo đảm hành lang pháp lý rõ ràng để duy trì nguồn nước ổn định. Trong trường hợp nguồn nước thô gặp sự cố và nhà máy phải ngừng hoạt động kéo dài từ 1 đến 2 ngày, doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Liên quan đến bảo đảm CNAT, cần đặc biệt lưu ý đến vấn đề nguồn nước dự phòng tại khu vực ĐBSCL, nơi tiềm ẩn nhiều rủi ro ô nhiễm. Theo đó, cần có nhiều nguồn dự phòng khác nhau. Để thực hiện được nội dung này, phải có quy hoạch, có cơ chế ưu tiên và có sự tham gia của nhiều bộ, ngành, địa phương; riêng đơn vị cấp nước thì không thể tự triển khai.
Ông Đinh Công Phủ, TGĐ Công ty Cấp nước và Môi trường Đô thị tỉnh Đồng Tháp: Cần đưa "nông thôn" vào các quy định cấp nước mới

TGĐ Công ty Cấp nước và Môi trường Đô thị tỉnh Đồng Tháp: Cần sớm ban hành Luật Cấp nước, trong đó ghi rõ vấn đề đề bù thoả đáng cho các công trính cấp nước khi bị di dời.
Cần sớm ban hành Luật Cấp nước, trong đó ghi rõ vấn đề đề bù thoả đáng cho các công trính cấp nước khi bị di dời. Về nguồn vốn, ông Đinh Công Phủ đề xuất quy định cụ thể: vốn do đơn vị nào đầu tư hạ tầng thì đơn vị đó (hoặc cấp quyết định đầu tư) phải chịu trách nhiệm phân bổ vốn để chi trả cho việc di dời, khắc phục hệ thống cấp nước.
Để phòng chống thất thoát nước. Chúng ta phải xác định rõ cần có lộ trình cụ thể và cần được hỗ trợ từ nguồn lực địa phương cũng như nguồn lực của từng công ty và điều kiện địa hình, không chỉ nơi có địa hình đồi núi, mà ở nông thôn cũng cần được hỗ trợ vốn.
Hiện nay tỷ lệ thất thoát ở nông thôn rất cao. Nếu tính từ đồng hồ cấp 1 (nước thô) ra luôn thì thất thoát có thể trên 40%. Ngay cả tính từ đồng hồ nước sạch ra đến đồng hồ khách hàng thì thất thoát hiện tại cũng khoảng 20%. Tại các quy định mới cần bổ sung thêm đối tượng vùng "nông thôn" vào vì hiện nay công ty tiếp nhận lại các trạm cấp nước nông thôn do tỉnh chỉ đạo, đa phần tài sản đã hết niên hạn sử dụng (trên dưới 20 năm). Việc đấu nối nước rất phức tạp, người dân có khi đấu nối để nuôi cá, gây thất thoát rất lớn. Hơn nữa, khi có sản xuất công nghiệp, đường ống nằm sâu, địa hình không bằng phẳng (qua đê, đường, đội nón cống...), khi xảy ra xì bể thì rất khó phát hiện và khó đi dò tìm.
Ông Trần Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Cấp Thoát nước Việt Nam: Cấp nước an toàn phải bổ sung tiêu chí nguồn nước và số hóa quản lý

Ông Trần Anh Tuấn: Cần phải đưa biến đổi khí hậu vào chương trình Chương trình Quốc gia bảo đảm CNAT; Chương trình Quốc gia chống thất thoát, thất thu nước sạch giai đoạn 2025 - 2030
Khái niệm CNAT hiện nay không thể chỉ dừng lại ở các tiêu chí như ổn định áp lực, lưu lượng, tính liên tục, chất lượng nước và thất thoát. Có một nội dung rất quan trọng trong các giai đoạn trước chưa được đặt đúng mức, đó là nguồn nước. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu tác động ngày càng rõ, việc đưa nội dung bảo vệ và bảo đảm an toàn nguồn nước vào chương trình là hết sức cần thiết.
Bên cạnh đó, nội dung ứng dụng khoa học công nghệ cần được làm rõ theo hướng số hóa ngành Nước. Hiện nay, các đơn vị cấp nước đang tự triển khai, mỗi nơi một cách, chủ yếu mới dừng ở quản lý thông minh cục bộ. Đề nghị Cục Kết cấu Hạ tầng xây dựng (Bộ Xây dựng) nghiên cứu xây dựng một nền tảng phần mềm chung cho toàn ngành Nước, để các đơn vị cùng sử dụng và phát triển trên nền tảng đó, bảo đảm quản lý thống nhất, kết nối từ địa phương lên Trung ương. Tiêu chí về nguồn nước và quản lý số hóa cần được xác định là những tiêu chí mới của CNAT trong giai đoạn tới.
Nếu không đưa các nội dung này vào Chương trình Quốc gia bảo đảm CNAT; Chương trình Quốc gia chống thất thoát, thất thu nước sạch giai đoạn 2025-2030, 2030-2035 thì rất khó để các đơn vị có mục tiêu phấn đấu.
Về tiêu chuẩn và đánh giá CNAT, thời gian qua nhiều đơn vị đã làm tốt nhưng chưa được ghi nhận tương xứng. Trong chương trình mới cần có cơ chế xác nhận, đánh giá các đơn vị đạt chuẩn, quy định rõ cấp nào xác nhận? cấp tỉnh, cấp bộ hay giao cho Hội Cấp Thoát nước Việt Nam, đồng thời có sự tham gia của đơn vị đánh giá độc lập và cơ quan quản lý nhà nước. Việc này nhằm tăng trách nhiệm và tạo động lực phấn đấu. Đơn vị đạt mà không duy trì được thì phải chịu có chế tài phù hợp.
Về các chỉ tiêu cụ thể, ông Trần Anh Tuấn thống nhất việc lượng hóa mục tiêu đến năm 2030, nhưng đề nghị phân nhóm cho phù hợp. Những đơn vị đã dưới 15% thất thoát cần có cơ chế duy trì và xác nhận kết quả. Các nhóm từ 15% đến 20%, từ 20% đến 30% cần có lộ trình phù hợp, đặc biệt đối với các hệ thống cấp nước nông thôn, nếu đặt chỉ tiêu quá cao sẽ rất khó khả thi.
Đối với khu vực nông thôn, cần làm rõ chỉ tiêu CNAT trong điều kiện chất lượng nước khó đạt theo các quy chuẩn hiện hành. Hiện nay, nhiều địa phương có mạng lưới cấp nước đô thị và nông thôn dùng chung, chưa tách riêng, nên cần có hướng dẫn cụ thể trong tổ chức thực hiện. Về nguồn lực, các hệ thống nông thôn chủ yếu sử dụng vốn ngân sách, nếu ngân sách không tăng thì cần có cơ chế mở để huy động sự tham gia của người dân.
Về tổ chức điều phối, theo ông Trần Anh Tuấn bắt buộc phải có ban chỉ đạo. Tuy nhiên, ban chỉ đạo cần gắn với chính quyền địa phương, có chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm rõ ràng, tránh hình thức. Ban chỉ đạo phải đủ thẩm quyền để đề xuất, điều chỉnh quy hoạch cấp nước, phù hợp với phân cấp hiện nay theo Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn.
Ông Tuấn cho rằng những nội dung này cần được làm rõ và thể hiện đầy đủ trong chương trình CNAT giai đoạn tới.
Mai Thanh
Những “hành khách” nặng hàng tấn, bay chuyên cơ tới Safari lớn nhất Việt Nam giờ ra sao?
Cần thêm hướng dẫn một số nội dung về định giá nước sạch trong Thông tư 145/2025/TT-BTC
Hải Phòng giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thoát nước và xử lý nước thải
Đọc thêm
Vietnam Water Week 2026: Diễn đàn ngành Nước Việt Nam - Cơ hội hợp tác quốc tế
Diễn ra từ ngày 16–18/9/2026 tại Hà Nội với chủ đề “Chuyển đổi số - tăng cường khả năng thích ứng của ngành Nước trong kỷ nguyên mới”, Vietnam Water Week 2026 đánh dấu năm thứ 5 của một sự kiện đang từng bước khẳng định vị thế, uy tín trong hoạt động chuyên môn của ngành Nước Việt Nam.
Cần thêm hướng dẫn một số nội dung về định giá nước sạch trong Thông tư 145/2025/TT-BTC
Thông tư 145/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính đã bổ sung các hướng dẫn đặc thù khi áp dụng phương pháp định giá chung đối với nước sạch, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động định giá nước. Tuy nhiên, để bảo đảm việc triển khai thống nhất, phù hợp với điều kiện thực tế, một số nội dung cần được trao đổi, hướng dẫn thêm.
Bộ Xây dựng sửa đổi phương pháp định giá dịch vụ thoát nước
Bộ Xây dựng mới ban hành Thông tư số 75/2026/TT-BXD ngày 30/9/2026, sửa đổi, bổ sung phương pháp định giá dịch vụ thoát nước. Thông tư bãi bỏ quy định giới hạn tỷ lệ chi phí sản xuất chung và chi phí quản lý doanh nghiệp; quy định căn cứ xác định hao phí khi chưa có định mức hoặc định mức chưa phù hợp thực tế.
Không thể chuyển đổi số bằng hợp đồng 12 tháng
Tại nhiều địa phương, hợp đồng vận hành thoát nước chỉ kéo dài 12 tháng, khiến doanh nghiệp khó đầu tư công nghệ và tích lũy dữ liệu. Nếu không điều chỉnh cơ chế hợp đồng để tạo điều kiện đầu tư dài hạn, chuyển đổi số dễ dừng ở phần mềm rời rạc và mô hình thí điểm ngắn hạn.
Quản lý ngành Nước không đồng nghĩa phải sở hữu mọi doanh nghiệp
Nhà nước quản lý hoạt động cấp nước từ khai thác nguồn đến giá bán, nhưng có nhất thiết phải sở hữu mọi doanh nghiệp? Từ các tiêu chí cơ cấu lại vốn nhà nước tại Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg, việc lựa chọn mô hình sở hữu cần được xem xét gắn với yêu cầu kiểm soát hệ thống cấp nước và khả năng huy động nguồn lực đầu tư.
Vietnam Water Week 2026 và hành trình đưa câu chuyện ngành Nước đến gần công chúng
Từ một sự kiện chuyên ngành, Vietnam Water Week 2026 đã góp phần đưa những vấn đề của ngành Nước đến gần hơn với công chúng. Tuần lễ thu hút sự quan tâm của hơn 30 cơ quan thông tấn, báo chí, qua đó lan tỏa các câu chuyện về chuyển đổi số, an ninh nguồn nước và phát triển bền vững tới cộng đồng.
Ngành Nước miền Nam đối mặt “thách thức kép” về nguồn nước và phát triển đô thị
Biến đổi khí hậu và sự dịch chuyển nhanh chóng của không gian đô thị đang tạo ra những sức ép mới đối với hạ tầng cấp thoát nước miền Nam. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp ngành Nước không chỉ nâng cao năng lực quản trị, làm chủ công nghệ mà còn cần hành lang pháp lý đồng bộ hơn để tháo gỡ các nút thắt hiện thời.
Dữ liệu mở đường cho thoát nước Hà Nội
Những trận mưa đầu tháng 9/2026 đã cho chúng ta thấy dữ liệu đang tham gia trực tiếp vào công tác thoát nước tại Hà Nội. Từ trạm quan trắc, camera đến bản đồ số, thông tin hiện trường được đưa về một đầu mối để theo dõi, vận hành công trình và điều phối lực lượng.
Khi nào dữ liệu tạo ra giá trị?
Doanh nghiệp cấp nước ngày càng sở hữu nhiều dữ liệu từ SCADA, GIS, đồng hồ thông minh, cảm biến và các hệ thống giám sát. Nhưng dữ liệu chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuyển hóa thành quyết định, hiệu quả vận hành và năng lực quản trị tốt hơn.