Nhiệt độ
Đào tạo nhân lực ngành Nước không thể chỉ dừng ở giảng đường
Ngành Nước đang cần một lớp nhân lực không chỉ vững chuyên môn, đủ năng lực thực hành, thích ứng công nghệ và đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Từ góc nhìn của cơ sở đào tạo, câu chuyện nhân lực vì thế không thể chỉ giải trong giảng đường mà cần sự gắn kết chặt hơn giữa nhà trường, doanh nghiệp và tổ chức nghề nghiệp.
Là cơ sở đào tạo gắn với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nơi nhu cầu về hạ tầng kỹ thuật, cấp thoát nước và thích ứng biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, Trường Đại học Xây dựng Miền Tây có điều kiện quan sát khá trực diện những chuyển động của thị trường nhân lực ngành Nước. Xung quanh câu chuyện này, phóng viên Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam đã có cuộc trao đổi với đại diện nhà trường là ThS. Giang Văn Tuyền - Giảng viên Bộ môn Cấp thoát nước và Môi trường, Khoa Kỹ thuật hạ tầng đô thị.

ThS. Giang Văn Tuyền - Giảng viên Bộ môn Cấp thoát nước và Môi trường, Khoa Kỹ thuật hạ tầng đô thị, Trường ĐH Xây dựng miền Tây.
Phóng viên: Thưa Thạc sỹ, nếu nhìn từ thực tiễn hiện nay, theo ông, điểm nghẽn lớn nhất của nguồn nhân lực ngành Nước Việt Nam đang nằm ở đâu?
ThS. Giang Văn Tuyền: Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở khoảng cách giữa kiến thức lý thuyết được trang bị trong nhà trường với năng lực thực hành giải quyết những vấn đề tổng hợp, liên ngành tại hiện trường. Sinh viên có thể nắm khá chắc các nguyên lý, công thức, quy trình trên giảng đường, nhưng khi bước ra thực tế lại dễ lúng túng trước những tình huống rất cụ thể như thi công đường ống, vận hành thiết bị, xử lý chất lượng nước, quản lý trạm bơm hay dò tìm và ứng phó với sự cố trên mạng lưới.
Cái khó của ngành này là mọi vấn đề ngoài thực địa hiếm khi xuất hiện theo cách "đúng như bài giảng". Thực tế luôn phức tạp hơn, đòi hỏi người làm nghề không chỉ biết kiến thức chuyên môn, mà còn phải có bản lĩnh nghề nghiệp, khả năng quan sát, phán đoán và phối hợp nhiều lĩnh vực cùng lúc.
Nếu nhìn kỹ, điểm nghẽn đó xuất phát từ một số nguyên nhân lớn. Trước hết, đây là lĩnh vực nhạy cảm, gắn với an ninh nguồn nước, an toàn hệ thống và nhiều yêu cầu pháp lý chặt chẽ, nên việc để sinh viên tiếp cận trực tiếp với các công trình, đặc biệt là các nhà máy xử lý nước đang vận hành, không hề đơn giản. Thứ hai, công nghệ trong ngành Cấp Thoát nước rất đa dạng, mỗi doanh nghiệp lại lựa chọn giải pháp khác nhau tùy điều kiện kinh tế, kỹ thuật và mục tiêu quản lý. Điều đó khiến việc giúp sinh viên tiếp cận toàn diện với thực tế vận hành là điều rất khó.
Bên cạnh đó, năng lực chuyển đổi số của sinh viên cũng còn những hạn chế khách quan. Nhiều phần mềm chuyên ngành có chi phí bản quyền cao, yêu cầu cấu hình máy mạnh, nên không phải sinh viên nào cũng có điều kiện tiếp cận đầy đủ. Cuối cùng, điều mà chúng tôi trăn trở nhất là sinh viên vẫn còn thiếu cơ hội va chạm thực tế đủ sâu để hình thành tư duy tổng hợp. Các em có thể học được cách giải quyết vấn đề trên lý thuyết, nhưng khi đối diện với những tình huống thật, nơi mọi yếu tố vận hành cùng lúc và áp lực đến ngay lập tức, thì cảm giác bỡ ngỡ là điều khó tránh khỏi.

Thầy trò Trường ĐH Xây dựng miền Tây nhận Giải thưởng Đồ án tốt nghiệp xuất sắc sinh viên ngành Nước 2025 do lãnh đạo Hội Cấp Thoát nước Việt Nam trao tặng.
Phóng viên: Một thực tế thường được nhắc đến là sinh viên học đúng ngành nhưng khi vào doanh nghiệp vẫn phải mất thời gian thích nghi và đào tạo lại. Theo ông, khoảng cách lớn nhất giữa đào tạo hiện nay và nhu cầu thực tiễn của ngành Nước nằm ở đâu?
ThS. Giang Văn Tuyền: Khoảng cách lớn nhất, theo tôi, không nằm ở chỗ sinh viên thiếu kiến thức nền tảng, mà nằm ở chỗ các em thiếu trải nghiệm thực hành đủ sát với môi trường làm việc thật. Nhà trường có thể trang bị cho sinh viên tư duy nền, phương pháp tiếp cận và những giải pháp mang tính khái quát. Nhưng trong doanh nghiệp, mỗi sự cố, mỗi công trình, mỗi hệ thống lại có điều kiện rất riêng. Chính tính riêng biệt ấy khiến người mới ra trường cần thêm thời gian để làm quen.
Có ba biểu hiện rất rõ. Thứ nhất, thời lượng đào tạo trong nhà trường có giới hạn, nên nội dung giảng dạy thường phải đi theo hướng tổng quát. Trong khi đó, thực tiễn của ngành lại vô cùng đa dạng, không có một công thức chung cho mọi tình huống. Thứ hai, công nghệ và thiết bị tại doanh nghiệp thay đổi nhanh, nhưng sinh viên lại khó tiếp cận đầy đủ vì rào cản chi phí và điều kiện học tập. Thứ ba, do những đặc thù về an toàn và pháp lý, doanh nghiệp không dễ dàng mở toàn bộ quy trình vận hành cho sinh viên tham gia trực tiếp. Thành ra, các em học đúng ngành nhưng vẫn thiếu những trải nghiệm "cầm tay chỉ việc" để tự tin khi bước vào môi trường làm việc thật.
Phóng viên: Trong 5 đến 10 năm tới, khi ngành Nước đồng thời chịu tác động của chuyển đổi số, biến đổi khí hậu và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ, theo ông, Ngành sẽ cần một lớp nhân lực như thế nào?
ThS. Giang Văn Tuyền: Tôi cho rằng trong 5 đến 10 năm tới, ngành Nước sẽ cần một lớp nhân lực mới, không chỉ giỏi chuyên môn theo nghĩa truyền thống, mà còn phải linh hoạt, đa kỹ năng và thích ứng rất nhanh với thay đổi.
Trước hết, đó phải là những người thành thạo công cụ số, biết sử dụng các phần mềm mô phỏng mạng lưới, thiết kế kỹ thuật, quản lý dữ liệu, đồng thời có khả năng tiếp cận các công nghệ mới như IoT, giám sát vận hành thông minh hay phân tích dữ liệu phục vụ quản lý hệ thống. Chuyển đổi số trong ngành Nước sẽ không còn là xu hướng xa vời, mà sẽ trở thành một yêu cầu bắt buộc.
Thứ hai, đó phải là lực lượng lao động có năng lực ứng phó với những biến động ngày càng khó lường của nguồn nước đầu vào dưới tác động của biến đổi khí hậu. Làm nghề nước trong tương lai không thể chỉ dừng ở việc thiết kế hay vận hành một hệ thống ổn định trong điều kiện bình thường, mà còn phải biết nghĩ đến khả năng chống chịu, đến những kịch bản rủi ro và cách ứng xử linh hoạt khi điều kiện tự nhiên thay đổi.
Và điều quan trọng không kém là người lao động trong ngành sẽ cần tư duy liên ngành ngày càng rõ hơn. Một kỹ sư nước không thể chỉ hiểu cấp nước mà tách rời thoát nước, môi trường, quy hoạch hay quản trị đô thị. Trong thực tế, mọi vấn đề đều có sự liên thông với nhau. Vì vậy, ngành sẽ cần những con người vừa có chiều sâu chuyên môn, vừa có khả năng kết nối các lĩnh vực để đưa ra giải pháp phù hợp với từng địa bàn, từng hệ thống và từng đơn vị vận hành cụ thể.

Ngành Nước sẽ cần một lớp nhân lực mới, không chỉ giỏi chuyên môn theo nghĩa truyền thống, mà còn phải linh hoạt, đa kỹ năng và thích ứng rất nhanh với thay đổi.
Phóng viên: Theo ông, để không bị tụt lại trước những yêu cầu mới của Ngành, sinh viên ngành Nước hôm nay cần được trang bị những năng lực cốt lõi nào?
ThS. Giang Văn Tuyền: Theo tôi, có bốn năng lực cốt lõi mà sinh viên ngành Nước hôm nay nhất thiết phải được chuẩn bị.
Thứ nhất là năng lực thực hành hiện trường và xử lý tình huống thực tế. Đây là năng lực rất quan trọng, bởi nghề nước là nghề gắn chặt với công trình, với hệ thống vận hành thật, với những tình huống không thể học hết qua giáo trình. Sinh viên chỉ thực sự trưởng thành khi được tiếp xúc với hiện trường, được quan sát, được tham gia và được chỉ dẫn trực tiếp.
Thứ hai là năng lực ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số. Người học hôm nay không thể chỉ biết bản vẽ truyền thống hay những thao tác thủ công cơ bản, mà cần từng bước làm chủ các công cụ số để thích ứng với cách quản lý, vận hành mới của Ngành.
Thứ ba là tư duy hệ thống và khả năng giải quyết vấn đề tổng hợp. Khi đứng trước một sự cố hay một bài toán kỹ thuật, người làm nghề không thể nhìn theo một lát cắt đơn lẻ. Phải biết đặt nó trong tổng thể vận hành, trong điều kiện địa phương, trong mối liên hệ giữa kỹ thuật, môi trường và nhu cầu sử dụng dịch vụ.
Và cuối cùng là năng lực tự học, tự cập nhật. Ngành Nước đang thay đổi nhanh. Công nghệ thay đổi, yêu cầu dịch vụ thay đổi, áp lực môi trường cũng thay đổi. Nếu không có tinh thần học tập suốt đời, người lao động rất dễ tụt lại phía sau. Tôi nghĩ đây không còn là kỹ năng bổ trợ, mà là một phẩm chất nghề nghiệp thiết yếu.

Bên cạnh kiến thức chuyên môn, sinh vên Trường Đại học Xây dựng miền Tây còn được rèn những kỹ năng mềm.
Phóng viên: Từ góc độ đào tạo, theo ông, các trường đại học cần thay đổi gì trong chương trình, phương pháp giảng dạy và tổ chức thực hành để sinh viên ra trường có thể bắt nhịp nhanh hơn với công việc thực tế?
ThS. Giang Văn Tuyền: Theo tôi, điều đầu tiên là chương trình đào tạo cần được điều chỉnh theo hướng ứng dụng rõ hơn. Điều đó không có nghĩa là xem nhẹ lý thuyết, mà là phải lựa chọn lại trọng tâm: giữ vững nền tảng cốt lõi, đồng thời tăng tỷ lệ các học phần thực hành, bài tập tình huống, học phần gắn với công nghệ và bài toán thật của doanh nghiệp. Một số nội dung quá nặng tính hàn lâm nhưng ít được sử dụng trong thực tế cũng cần được rà soát lại để dành chỗ cho những năng lực mà thị trường lao động đang cần.
Thứ hai, phương pháp giảng dạy cũng phải thay đổi. Giảng viên không chỉ truyền đạt kiến thức, mà cần đóng vai trò như người dẫn dắt sinh viên tiếp cận với thực tiễn nghề nghiệp. Muốn vậy, cần tăng cường mời chuyên gia từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy, chia sẻ kinh nghiệm vận hành, bài học xử lý sự cố và những yêu cầu rất cụ thể của vị trí việc làm.
Thứ ba, tổ chức thực hành phải thực chất hơn. Không nên xem thực tập chỉ là một học phần bắt buộc để hoàn thành chương trình, mà phải coi đó là giai đoạn bản lề để sinh viên chuyển từ "học" sang "làm". Muốn vậy, cần có những đợt thực tập đủ dài, đủ sâu, có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp.
Ngoài ra, tôi cho rằng giảng viên cũng rất cần được cập nhật thường xuyên từ thực tiễn. Khi thầy cô có cơ hội đi thực tế tại doanh nghiệp, quan sát công nghệ, nắm bắt nhu cầu nhân lực và các vấn đề đang đặt ra ngoài hiện trường, bài giảng sẽ gần hơn với cuộc sống, và sinh viên cũng được hưởng lợi từ chính sự cập nhật đó.
Phóng viên: Để thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng lao động, theo ông, nhà trường, doanh nghiệp và các tổ chức nghề nghiệp cần phối hợp với nhau ra sao để tạo ra chuyển biến thực chất?
ThS. Giang Văn Tuyền: Muốn có chuyển biến thực chất thì không thể để mỗi bên đi một hướng. Nhà trường, doanh nghiệp và các tổ chức nghề nghiệp cần ngồi lại với nhau thường xuyên hơn, chia sẻ thông tin với nhau nhiều hơn và cùng nhìn nhận việc đào tạo nhân lực như một trách nhiệm chung.
Về phía nhà trường, cần chủ động hơn trong việc lắng nghe nhu cầu của doanh nghiệp, mời doanh nghiệp tham gia từ khâu góp ý chương trình đến tổ chức tham quan, kiến tập, thực tập cho sinh viên.
Về phía doanh nghiệp, nếu có thể tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận môi trường vận hành ở mức phù hợp, cử cán bộ kỹ thuật tham gia giảng dạy, hướng dẫn hoặc phản hồi về chương trình đào tạo, thì đó sẽ là đóng góp rất lớn cho cả hệ thống đào tạo nhân lực ngành Nước.
Còn các tổ chức nghề nghiệp cần đóng vai trò là cầu nối. Họ có thể tổ chức diễn đàn, hội thảo, ngày hội việc làm, các cuộc thi chuyên môn hay mạng lưới trao đổi giữa nhà trường và doanh nghiệp để các bên hiểu nhau hơn.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Thạc sỹ về những chia sẻ thẳng thắn, tâm huyết và giàu tính gợi mở xung quanh câu chuyện đào tạo nhân lực cho ngành Nước trong giai đoạn mới.
Mai Thanh (thực hiện)
Việt Nam - Nhật Bản đẩy mạnh kết nối, mở ra nhiều cơ hội hợp tác trong ngành Nước
An ninh nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long từ Kết luận 26 của Bộ Chính trị
VWSA lưu ý hội viên về quy định xử phạt liên quan chất lượng nước sạch sinh hoạt
Đọc thêm
Nhân lực ngành Nước: tiếng nói từ thực tiễn
Từ giảng đường đến doanh nghiệp, từ đơn vị cấp nước đến nhà cung ứng thiết bị, câu chuyện nhân lực ngành Nước đang hiện lên với nhiều yêu cầu mới. Những chia sẻ từ thực tiễn cho thấy, muốn ngành Nước đi đường dài, đào tạo phải đổi mới và con người phải được chuẩn bị sớm hơn, sát hơn với nhu cầu thật của nghề.
Đổi mới quản lý chất thải rắn, hướng tới đô thị xanh - thông minh
Ngày 08/5/2026, tại Hà Nội, Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội phối hợp Viện Nghiên cứu Đô thị và Phát triển hạ tầng tổ chức tọa đàm “Quản lý chất thải rắn và vệ sinh môi trường trong đô thị xanh, thông minh”. Với 23 tham luận, tọa đàm tập trung đề xuất giải pháp về quản lý chất thải rắn và vệ sinh môi trường.
Chi hội Cấp Thoát nước miền Bắc tìm giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu
Độ mặn tăng, chất lượng nước thô giảm cùng các hiện tượng thời tiết cực đoan đã tạo sức ép lớn lên ngành Cấp Thoát nước. Từ thực tiễn tại Hải Phòng và nhiều địa phương phía Bắc, các chuyên gia, doanh nghiệp ngành Nước đã thảo luận nhằm tìm ra giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu (BĐKH) từ công nghệ, quản trị cho đến chính sách.
Vietnam Water Week 2026: Định hình mô hình xúc tiến thương mại mới cho ngành Cấp Thoát nước trong kỷ nguyên số
Khi mô hình triển lãm truyền thống bộc lộ những hạn chế, việc Hội Cấp Thoát nước Việt Nam tiếp tục triển khai Vietnam Water Week 2026 theo hướng kết hợp triển lãm trực tiếp và trực tuyến được xem là bước đi phù hợp, nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại và khả năng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp trong kỷ nguyên số hóa.
Đô thị miền núi cần một cách tiếp cận mới trong quản lý ngập lụt
Từ trường hợp tỉnh Cao Bằng, PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương cho rằng đô thị miền núi cần chuyển từ tư duy thoát nước bằng công trình cứng sang “sống cùng nước”, tổ chức phát triển theo lưu vực, dành không gian điều tiết và dùng dữ liệu để chủ động ứng phó ngập lụt.
Tăng trưởng xanh: Động lực mới cho doanh nghiệp ngành Nước
Trong bối cảnh các yêu cầu về môi trường, phát thải carbon ngày càng khắt khe, tăng trưởng xanh đang chuyển từ xu hướng sang điều kiện bắt buộc. Với ngành Nước – một trong những lĩnh vực chịu tác động lớn nhất từ biến đổi khí hậu, áp lực chuyển đổi xanh không chỉ đến từ bên ngoài mà còn xuất phát từ nhu cầu tự thân.
Đà Nẵng tính chuyện hạ tầng nước cho chặng phát triển mới
Trong định hướng phát triển mới, Đà Nẵng không chỉ mở rộng không gian đô thị mà còn phải nâng tầm hạ tầng cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải. Đó là yêu cầu đi cùng vị thế cửa ngõ ra biển, trung tâm logistics và cực tăng trưởng quan trọng của quốc gia.
Tỉnh Cao Bằng tổ chức Hội thảo ‘Đô thị miền núi thích ứng với biến đổi khí hậu cực đoan'
Sáng ngày 17/4/2026, tại Cao Bằng đã diễn ra hội thảo khoa học thực tiễn với chủ đề “Đô thị miền núi thích ứng với biến đổi khí hậu cực đoan”. Tham dự hội thảo có sự tham dự của lãnh đạo Bộ Xây dựng, lãnh đạo tỉnh cùng các chuyên gia, nhà khoa học cùng các doanh nghiệp.
Đặt nước vào trung tâm của chiến lược phát triển toàn cầu
Tối 15/4/2026 (giờ Việt Nam), Ngân hàng Thế giới (WB) đã công bố sáng kiến Water Forward, với mục tiêu cải thiện an ninh nguồn nước cho 400 triệu người vào năm 2030. Sự kiện nằm trong chương trình Hội nghị mùa xuân 2026 của Nhóm Ngân hàng Thế giới (WBG) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tổ chức từ ngày 13 - 18/4 tại Washington, D.C - Mỹ.