Nhiệt độ
Quản lý ngành nước không đồng nghĩa phải sở hữu mọi doanh nghiệp
Nhà nước quản lý chặt hoạt động cấp nước từ khai thác nguồn đến chất lượng, giá bán, nhưng có nhất thiết phải sở hữu mọi doanh nghiệp? Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg quy định tiêu chí cơ cấu lại vốn Nhà nước. Việc lựa chọn mô hình sở hữu cần gắn với yêu cầu kiểm soát từng hệ thống và khả năng huy động nguồn lực đầu tư
Quản lý dịch vụ và sở hữu doanh nghiệp
Hoạt động cấp nước chịu sự quản lý của Nhà nước từ khi doanh nghiệp khai thác nước thô đến lúc nước sạch được cung cấp cho khách hàng. Theo Luật Tài nguyên nước năm 2023 và Nghị định số 54/2024/NĐ-CP, việc khai thác nguồn nước phải đáp ứng các điều kiện về cấp phép, quan trắc, bảo vệ nguồn nước và nghĩa vụ tài chính. Doanh nghiệp không thể tự chọn nguồn rồi khai thác theo nhu cầu mà bỏ qua các điều kiện đó.

Đơn vị cấp nước phải thực hiện nội kiểm và chịu sự ngoại kiểm theo quy định của ngành Y tế. (hình minh hoạ)
Tại nhà máy, nước dùng cho sinh hoạt phải đáp ứng quy chuẩn chất lượng. Đơn vị cấp nước phải thực hiện nội kiểm và chịu sự ngoại kiểm theo quy định của ngành Y tế. Trách nhiệm của đơn vị cấp nước tiếp tục kéo dài trên mạng lưới phân phối, nơi chất lượng, áp lực, lưu lượng và tính liên tục của dịch vụ ảnh hưởng trực tiếp đến người sử dụng.
Doanh nghiệp cũng không tự xác lập vùng phục vụ của mình. Theo quy định về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch được hợp nhất tại Văn bản số 51/VBHN-BXD năm 2026, vùng phục vụ do cơ quan có thẩm quyền xác định và về nguyên tắc, mỗi vùng do một đơn vị thực hiện dịch vụ cấp nước. Thỏa thuận thực hiện dịch vụ cấp nước là căn cứ ràng buộc đơn vị vận hành với phạm vi phục vụ, kế hoạch phát triển mạng lưới và các điều kiện cung cấp nước.
Ở đầu ra, nước sạch thuộc diện Nhà nước định giá theo Luật Giá năm 2023. Đơn vị cấp nước lập phương án giá để cơ quan có thẩm quyền xem xét, thẩm định; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá nước sạch cụ thể theo quy định. Hợp đồng cung cấp nước sinh hoạt theo mẫu còn phải thực hiện yêu cầu đăng ký theo pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước khi áp dụng.
Những quy định ấy áp dụng đối với hoạt động cấp nước, bất kể doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hay tư nhân. Nhà nước quản lý dịch vụ bằng pháp luật, giấy phép, quy chuẩn, cơ chế giá, thỏa thuận và hoạt động kiểm tra. Sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp là việc Nhà nước đầu tư vốn và thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với phần vốn đó. Một doanh nghiệp tư nhân vẫn phải đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ cấp nước. Với doanh nghiệp có vốn nhà nước, việc nắm giữ cổ phần cũng cần đi cùng giám sát hiệu quả vận hành và trách nhiệm phục vụ.

Doanh nghiệp cũng không tự xác lập vùng phục vụ của mình. (hình minh hoạ)
Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg ngày 5/8/2026 quy định tiêu chí phân loại doanh nghiệp để thực hiện cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn Nhà nước. Theo Quyết định, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác, sản xuất, cung cấp nước sạch và thoát nước đô thị, nông thôn thuộc nhóm có khung tỷ lệ Nhà nước nắm giữ từ 65% vốn điều lệ trở lên khi thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước. Đó là tiêu chí áp dụng trong phạm vi cơ cấu lại vốn nhà nước, không phải yêu cầu mọi công ty cấp, thoát nước đang hoạt động đều phải có ít nhất 65% vốn nhà nước.
Ngay với những doanh nghiệp đã có vốn Nhà nước, phương án sở hữu cũng được xem xét theo tình trạng cụ thể. Công ty TNHH MTV đang do Nhà nước nắm giữ 100% vốn có thể tiếp tục duy trì mô hình này hoặc thực hiện cơ cấu lại theo tiêu chí của Quyết định. Với doanh nghiệp đã hoàn thành cơ cấu lại trước khi Quyết định có hiệu lực nhưng tỷ lệ vốn nhà nước thấp hơn khung, cấp có thẩm quyền có thể quyết định duy trì tỷ lệ hiện có hoặc đầu tư bổ sung nếu đáp ứng điều kiện pháp luật. Vì thế, không thể hiểu khung 65% là yêu cầu tất cả doanh nghiệp có vốn nhà nước trong ngành phải lập tức nâng tỷ lệ sở hữu lên mức đó.
Bảo đảm quyền kiểm soát và nguồn lực đầu tư
Cấp nước có tính độc quyền tự nhiên cao. Trong một vùng phục vụ, khó xây dựng nhiều mạng lưới đường ống song song để các doanh nghiệp cạnh tranh trực tiếp. Nếu đơn vị đang vận hành gặp sự cố, người dân cũng khó chuyển ngay sang một nhà cung cấp khác. Hoạt động của doanh nghiệp vì vậy gắn chặt với đời sống của cả khu vực mà hệ thống phục vụ.
Đầu tư công trình nguồn, nhà máy và mạng lưới cần vốn lớn, thời gian thu hồi dài. Trong khi đó, giá nước phải tính đến khả năng chi trả của người dân. Nếu giá không được xem xét kịp thời hoặc không phản ánh chi phí hợp lý, doanh nghiệp có thể thiếu nguồn lực duy tu công trình, thay thế thiết bị và mở rộng mạng lưới. Khi một đơn vị không còn khả năng cung cấp nước, cơ quan quản lý vẫn phải tìm cách duy trì dịch vụ.
Những đặc điểm này đòi hỏi Nhà nước giữ quyền kiểm soát đối với các công trình nguồn, nhà máy lớn, tuyến truyền tải chính, hệ thống liên tỉnh và hệ thống phục vụ địa bàn đặc biệt quan trọng. Quyền kiểm soát có thể được bảo đảm thông qua sở hữu nhà nước hoặc các công cụ pháp lý đối với tài sản hạ tầng và hoạt động cung cấp dịch vụ. Việc lựa chọn phải căn cứ vào tính chất từng hệ thống, không thể áp dụng cùng một phương án sở hữu cho mọi vùng phục vụ.

Quyền sở hữu doanh nghiệp cũng cần được tách bạch với quyền sở hữu và quản lý công trình hạ tầng. (hình minh hoạ)
Ở góc độ nguồn lực, ông Nguyễn Văn Thiền, Phó Chủ tịch Hội Cấp Thoát nước Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng thành viên BIWASE, đề nghị tổng kết quá trình huy động vốn xã hội vào ngành nước trong nhiều năm qua. Theo ông, cần đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp đã thực hiện xã hội hóa và doanh nghiệp chưa thực hiện xã hội hóa trước khi quyết định hướng phát triển tiếp theo. "Bây giờ chúng ta nên tổng kết, rồi đánh giá, sau đó quyết định chúng ta tiếp tục phát triển hay là dừng. Tốt thì phát triển, không tốt thì dừng", ông Thiền thẳng thắn chia sẻ.
Ông Thiền cũng lưu ý rằng, dù phương án sắp xếp vốn ra sao, doanh nghiệp trước hết phải hoạt động hiệu quả, có lợi nhuận và tích lũy để phát triển, thay vì trông chờ được đầu tư thêm vốn nhà nước. Nguồn vốn công có hạn trong khi nhiều công trình hạ tầng lớn cùng cần đầu tư. Riêng lĩnh vực nước thải, nhu cầu vốn cho thu gom và xử lý còn rất lớn.
Việc xem xét cơ cấu sở hữu vì thế cần dựa cả vào hiệu quả hoạt động và kết quả phục vụ của doanh nghiệp. Với doanh nghiệp ngoài nhà nước đã đầu tư hợp pháp, vận hành hiệu quả, không nhất thiết thay đổi mô hình sở hữu. Nếu mua lại các doanh nghiệp này, Nhà nước sẽ phải bố trí nguồn vốn lớn, trong khi ngân sách còn nhiều nhiệm vụ ưu tiên. Doanh nghiệp có vốn nhà nước cũng cần được đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn, khả năng đầu tư mạng lưới và chất lượng dịch vụ.
Theo Chủ tịch Hội Cấp Thoát nước Việt Nam Nguyễn Ngọc Điệp, Quyết định 40 giải quyết tiêu chí cơ cấu lại vốn nhà nước nhưng không thể thay thế pháp luật chuyên ngành về cấp thoát nước. Trong quá trình xây dựng Luật Cấp thoát nước, cần xác định rõ tiêu chí phân loại hệ thống chiến lược dựa trên phạm vi phục vụ, quy mô dân số, vai trò đối với đô thị và khu công nghiệp, yêu cầu quốc phòng, an ninh cũng như khả năng có nguồn nước thay thế. Đây là cơ sở để lựa chọn những tài sản Nhà nước cần sở hữu hoặc giữ quyền chi phối.
Quyền sở hữu doanh nghiệp cũng cần được tách bạch với quyền sở hữu và quản lý công trình hạ tầng. Có trường hợp Nhà nước nắm giữ công trình nguồn, tuyến truyền tải hoặc mạng lưới chính nhưng lựa chọn doanh nghiệp vận hành theo hợp đồng dài hạn. Hợp đồng phải quy định rõ chỉ tiêu chất lượng, trách nhiệm đầu tư và cơ chế giám sát. Pháp luật cũng cần có quy định kiểm soát việc chuyển nhượng tài sản hạ tầng trọng yếu để bảo đảm hoạt động cấp nước không bị ảnh hưởng.
Thỏa thuận thực hiện dịch vụ cấp nước cần ràng buộc cụ thể nghĩa vụ đầu tư, duy trì công suất dự phòng, giảm thất thoát, bảo đảm an toàn cấp nước, công khai chất lượng nước và ứng phó sự cố, kèm chế tài khi đơn vị vận hành không hoàn thành cam kết. Nếu doanh nghiệp mất khả năng cung cấp dịch vụ, pháp luật cần xác định điều kiện để cơ quan có thẩm quyền yêu cầu khắc phục, chỉ định đơn vị vận hành tạm thời hoặc tiếp quản có thời hạn. Các biện pháp can thiệp phải bảo đảm cấp nước liên tục, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.
Để thực hiện những nghĩa vụ này, doanh nghiệp cần có nguồn thu đủ duy trì và tái đầu tư hệ thống. Cơ chế giá phải tính đến chi phí hợp lý của dịch vụ, đồng thời bảo đảm khả năng chi trả của người dân, nhất là nhóm yếu thế. Chính sách hỗ trợ cần minh bạch, tránh kéo dài tình trạng giá nước không phản ánh đầy đủ chi phí khiến công trình thiếu kinh phí vận hành.
Việc thực hiện Quyết định số 40 cần gắn với yêu cầu thận trọng khi thoái vốn nhà nước trong ngành nước, duy trì quyền kiểm soát cần thiết tại những doanh nghiệp vận hành hệ thống quan trọng. Với khu vực tư nhân, Nhà nước không nhất thiết phải trở thành chủ sở hữu, nhưng cần có hệ thống pháp luật đủ mạnh để kiểm soát chất lượng, giá nước, tài sản hạ tầng, nghĩa vụ đầu tư và tính liên tục của dịch vụ.
Ông Nguyễn Ngọc Điệp cho rằng, mô hình phù hợp không nằm ở hai cực, hoặc Nhà nước sở hữu tất cả, hoặc giao hoàn toàn cho thị trường. Cần kết hợp quyền kiểm soát của Nhà nước với hiệu quả quản trị của doanh nghiệp và khả năng huy động nguồn lực xã hội để bảo đảm cấp nước an toàn, liên tục và bền vững cho người dân.
Mai Thanh
Đọc thêm
Vietnam Water Week 2026 và hành trình đưa câu chuyện ngành Nước đến gần công chúng
Từ một sự kiện chuyên ngành, Vietnam Water Week 2026 đã góp phần đưa những vấn đề của ngành Nước đến gần hơn với công chúng. Tuần lễ thu hút sự quan tâm của hơn 30 cơ quan thông tấn, báo chí, qua đó lan tỏa các câu chuyện về chuyển đổi số, an ninh nguồn nước và phát triển bền vững tới cộng đồng.
Ngành Nước miền Nam đối mặt “thách thức kép” về nguồn nước và phát triển đô thị
Biến đổi khí hậu và sự dịch chuyển nhanh chóng của không gian đô thị đang tạo ra những sức ép mới đối với hạ tầng cấp thoát nước miền Nam. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp ngành Nước không chỉ nâng cao năng lực quản trị, làm chủ công nghệ mà còn cần hành lang pháp lý đồng bộ hơn để tháo gỡ các nút thắt hiện thời.
Dữ liệu mở đường cho thoát nước Hà Nội
Những trận mưa đầu tháng 9/2026 đã cho chúng ta thấy dữ liệu đang tham gia trực tiếp vào công tác thoát nước tại Hà Nội. Từ trạm quan trắc, camera đến bản đồ số, thông tin hiện trường được đưa về một đầu mối để theo dõi, vận hành công trình và điều phối lực lượng.
Khi nào dữ liệu tạo ra giá trị?
Doanh nghiệp cấp nước ngày càng sở hữu nhiều dữ liệu từ SCADA, GIS, đồng hồ thông minh, cảm biến và các hệ thống giám sát. Nhưng dữ liệu chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuyển hóa thành quyết định, hiệu quả vận hành và năng lực quản trị tốt hơn.
Dữ liệu bước vào lõi vận hành ngành Nước
Dữ liệu đang đi sâu vào các khâu cốt lõi của hoạt động cấp nước, từ kiểm soát chất lượng, định lượng hóa chất đến quản lý mạng lưới và hỗ trợ ra quyết định. Những ứng dụng được chia sẻ tại hội thảo cho thấy công nghệ số ngày càng gắn chặt với thực tiễn vận hành của doanh nghiệp.
Quyết định 40/2026/QĐ-TTg: Cơ cấu vốn ngành Nước không chỉ là câu chuyện tỷ lệ sở hữu
Quyết định 40/2026/QĐ-TTg đưa hoạt động khai thác, sản xuất, cung cấp nước sạch và thoát nước vào nhóm Nhà nước nắm giữ từ 65% vốn điều lệ trở lên. Với đặc thù sở hữu đa dạng của doanh nghiệp ngành Nước, tiêu chí mới đặt ra nhiều vấn đề cần được nghiên cứu trong quá trình xây dựng phương án cơ cấu vốn thời gian tới.
CLB Lãnh đạo nữ ngành Nước Việt Nam: Nhìn lại chặng đường hai năm hoạt động
Phiên họp lần thứ II năm 2026 của CLB Lãnh đạo nữ ngành Nước Việt Nam đã ghi dấu những kết quả nổi bật trong hành trình phát triển và tri ân các nữ cán bộ tiêu biểu.
Để Luật Cấp, Thoát nước trở thành động lực phát triển của ngành
Không chỉ hoàn thiện khung pháp lý, Luật Cấp, Thoát nước cần trở thành động lực thúc đẩy phát triển ngành trong giai đoạn mới. Theo PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến, điều đó chỉ có thể đạt được khi dự thảo Luật giải quyết được những vướng mắc từ thực tiễn và tạo cơ chế đủ mạnh cho quản lý,đầu tư, vận hành và khai thác.
Sinh viên UAH đưa giải pháp cấp thoát nước bền vững vào đồ án tốt nghiệp
Mới đây, Khoa Kỹ thuật Hạ tầng đô thị, Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM (UAH) có 47 sinh viên tham gia bảo vệ đồ án tốt nghiệp. Trong đó, 24 đồ án thuộc chuyên ngành Cấp Thoát nước. Các đồ án đã tập trung giải quyết các yêu cầu về cấp nước, thoát nước, xử lý và tái sử dụng nước trong quá trình phát triển đô thị.