Nhiệt độ
Tối ưu hóa quỹ đạo phát triển hệ thống thoát nước
Trong bài báo này đề xuất một phương pháp hình thành và tối ưu hóa các phương án phát triển hệ thống thoát nước, lựa chọn phương án tốt nhất trong việc bị hạn chế đầu tư. Đồng thời đề xuất mô hình và phương pháp phân tích, tối ưu hóa tái thiết và phát triển có tính đến độ tin cậy và khả năng chống động đất.
(1),(2),(3)- Trường Đại học Nghiên cứu Kỹ thuật Quốc gia Irkutsk – Liên bang Nga, 664074, Thành phố Irkutsk, đường Lermontova, 83
(4)- Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, 236B Lê Văn Sỹ, Phường 1, Quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh.
Tóm tắt. Việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã định nghĩa mới về quản lý công nghệ phát triển hệ thống kỹ thuật đô thị. Công nghệ này đã được chuyển đến cấp thành phố và trên một qui mô lớn hơn, nó có thể được đề xuất ở hai giai đoạn. Đầu tiên là chuẩn bị các đề án phát triển hệ thống cấp và thoát nước. Thứ hai là hiện thực hóa các đề án này dựa trên các chương trình đầu tư. Các chương trình đầu tư tạo sự đảm bảo tài chính cho việc phát triển bền vững và sửa chữa hệ thống thoát nước thông qua các thành phần đầu tư tại biểu thuế, phí kết nối cho các đối tượng trong xây dựng cơ bản và tài trợ có mục tiêu. Các chương trình này có thể bằng vốn nhà nước, thành phố hoặc các khoản vay và tín dụng. Vì nguồn tài chính cho việc phát triển hệ thống thoát nước là có hạn nên phát sinh vấn đề trong việc phân phối hợp lý xây dựng mới và tái thiết hệ thống đã có sẵn. Trong bài báo này đề xuất một phương pháp hình thành và tối ưu hóa các phương án phát triển hệ thống thoát nước, lựa chọn phương án tốt nhất trong việc bị hạn chế đầu tư. Đồng thời đề xuất mô hình và phương pháp phân tích, tối ưu hóa tái thiết và phát triển có tính đến độ tin cậy và khả năng chống động đất.
Từ khóa: quản lý phát triển hệ thống thoát nước, phương pháp tối ưu hóa, sơ đồ dự phòng, phương án phát triển, hạn chế về đầu tư.
Abstract. The transition to market relation has defined the new technology of development management of urban engineering systems for our country. This technology has shifted to the municipal level, and it can be represented in two stages. The first one – schemes developing of water supply and sewerage system, the second - the implementation of this scheme is based on investment programs of housing and public utilities. In the investment programs financial support is formed for the development and reconstruction of sewerage systems through the investment component in the tariff, connection fees for newly commissioned objects of capital construction and targeted funding for individual state and municipal programs, loans, and credits. Financial provision of development of sewerage systems becomes limited and there is a problem in their rational distribution between the construction of a new object and reconstruction of an existing one. This paper proposes a method of forming and option&;s optimization of development of sewerage systems, selection the best of them on the basis of limited investments in their construction, models, and methods of analysis, optimization of their reconstruction and development, taking into account the reliability and seismic resistance.
2. Cơ sở lý thuyết

Ví dụ, sơ đồ hệ thống thoát nước tính trong 15 năm (T = 15), sẽ được thực hiện trong ba giai đoạn (V = 3) trong ba chương trình đầu tư, mỗi chương trình là 5 năm (θ = 5), năm thực hiện chi tiêu – số năm hoàn thành xây dựng (τ = 15), thời gian hoàn vốn - 6 năm (E = 0,16). Nếu tái thiết và phát triển hệ thống thoát nước hiện có, thì khi xây dựng giai đoạn đầu tiên, vốn đầu tư sẽ sử dụng vào việc cải tạo những gì hiện có và xây dựng các đường ống và cơ sở vật chất mới, còn các chi phí trong giai đoạn này (5 năm) sẽ chỉ tính tới sự vận hành của hệ thống thoát nước hiện có . Trong việc xây dựng giai đoạn thứ hai chi phí đó đã sẽ áp dụng cho các chi phí vận hành của các mạng lưới hiện có và mạng lưới mới – cái được xây dựng trong giai đoạn đầu tiên và đã đưa vào hoạt động. Tương tự như vậy đến khi thực hiện giai đoạn thứ ba của xây dựng thì chi phí vận hành sẽ đầy đủ, chi phí này được thể hiện trong công thức (1) dưới dạng hạng tử sau cùng. Vì vậy, tiêu chí tối ưu hóa trên mỗi giai đoạn sẽ có những chi phí sau:
(2)Vốn đầu tư cơ bản và chi phí vận hành được sử dụng một cách phù hợp cho chi phí thiết kế, xây dựng, tái thiết và hoạt động của đường ống có áp, không áp và các trạm bơm nước thải. Để xác định chi phí vận hành không định kỳ, khuyến khích sử dụng các thông tin chứa trong quy định giá xây dựng: NCS 81-02-14-2012. " Mạng lưới cấp và thoát nước ", trong tài liệu: "Định mức dự toán và đánh giá các công nghệ mới trong xây dựng."
Đối với hệ thống nước thải thì độ tin cậy, khả năng chống động đất và an toàn môi trường nên được đánh giá bằng một chỉ số định lượng - khối lượng nước thải chưa qua xử lý được hình thành trong khoảng thời gian nhất định từ khi xuất hiện và loại bỏ sự cố. Trong nghiên cứu[7], đề xuất tính toán thể tích lượng nước thải này trên cơ sở cường độ hỏng hóc và phục hồi các đường ống hiện có và đang thiết kế. Khả năng chống động đất được tính toán thông qua sự gia tăng hỏng hóc, phụ thuộc vào cường độ chấn động và hướng tác động của trận động đất [8].Phương pháp tối ưu hóa hệ thống thoát nước có tính đến độ tin cậy và kháng địa chấn được mô tả kĩ trong nghiên cứu [9].
Rõ ràng, chi phí để ngăn chặn nước thải chưa được xử lý tràn trên bề mặt, hoặc các chi phí chuyển tải và xử lý tại các nhà máy phải được bổ sung vào chi phí vận hành.
Theo quan điểm đã nêu ở trên, bài toán tối ưu quản lý phát triển hệ thống thoát nước có thể được tóm tắt như sau. Cần phải tìm ra một cấu trúc mạng lưới và dòng chảy của hệ thống thoát nước, đảm bảo được chi phí tối thiểu trong xây dựng theo từng giai đoạn, trong sự hoạt động của nó và ngăn ngừa được sự tràn nước thải chưa qua xử lý ra diện tích bề mặt đất và bể chứa.
Để đánh giá mỗi phương án phát triển và các giai đoạn hiện thực hóa, đề xuất một tổ hợp mô hình và phương pháp phân tích, tối ưu hóa các thông số và phương thức hoạt động của hệ thống thoát nước mới và đang tái thiết [10-13]. Sự lựa chọn phương án tốt nhất được thực hiện trong các khoản đầu tư hạn chế, các khoản này được xác định bởi các chương trình đầu tư ở từng giai đoạn phát triển hệ thống thoát nước.
Các phương án phát triển hệ thống nước thải được xem xét như sau: khi xây dựng giai đoạn đầu tiên, các thông số của hệ thống được thiết kế để có thể tải được nước từ các điểm thải của giai đoạn đầu, tất cả các giai đoạn và sự tổ hợp các giai đoạn. Tương tự cũng áp dụng cho giai đoạn thứ hai, thứ ba,…. Không khó để thấy rằng số lượng các phương án phát triển hệ thống nước thải phụ thuộc vào số lượng các giai đoạn xây dựng và được tính theo công thức K =V!, trong đó V số lượng giai đoạn xây dựng, !-giai thừa. Ví dụ, đối với việc xây dựng ba giai đoạn phát triển, số phương án sẽ là 6, bốn giai đoạn sẽ là 24, năm giai đoạn sẽ là 120, đối với 15 giai đoạn sẽ - 1307674368000 phương án. Cần lưu ý rằng số lượng các phương án cho việc phát triển hệ thống thoát nước chỉ phụ thuộc vào số lượng các giai đoạn xây dựng đã lên kế hoạch và không phụ thuộc vào sơ đồ phát triển của thành phố và hệ thống kỹ thuật của nó.
Có thể thấy là số giai đoạn xây dựng có thể không lớn hơn năm giai đoạn. Trong trường hợp nhiều hơn, nó đòi hỏi sự phát triển của các phương pháp tối ưu hóa và cách tiếp cận. Trong bài báo này đề xuất một phương pháp như vậy. Phương pháp này dựa trên một quá trình gồm nhiều bước để tối ưu hóa các thông số của các thành phần mới và thành phần được cải tạo của mạng lưới, với việc xây dựng trước sơ bộ đồ thị phát hệ thống thoát nước từ một trạng thái này sang trạng thái khác.
Trong hình 1 thể hiện đồ thị xây dựng hệ thống thoát nước trong ba, bốn và năm giai đoạn. Trong hình này Q1, Q2, Q3, ... – Lưu lượng nước thải của giai đoạn đầu tiên, thứ hai và thứ ba trong thứ tự xây dựng cơ bản.

Hình - 1. Đồ thị chuyển tiếp hệ thống thoát nước, thực hiện trong ba (a), bốn (b) và năm (c) giai đoạn xây dựng.
Về bản chất, phương pháp tiếp cận được đề xuất trong bài báo này là một quá trình tính toán đa cấp phức tạp, các bước đầu tiên thực hiện sơ đồ quy hoạch động để xây dựng một tập hợp quỹ đạo tối ưu phát triển hệ thống thoát nước. Ở bước tiếp theo giải quyết các vấn đề tổng hợp của hệ thống thoát nước đảm bảo sự đánh giá tốt nhất quỹ đạo phát triển, kiểm tra tính khả thi về kỹ thuật và tài chính của nó. Sau khi xây dựng tất cả các quĩ đạo phát triển có thể, chúng ta sẽ chọn con đường tốt nhất và khảo sát ngược lại con đường đó và thông số của hệ thống cho giai đoạn xây dựng này. Phương trình hàm tối ưu quản lý phát triển hệ thống thoát nước sẽ có dạng như sau:

Cần lưu ý rằng rất nhiều thông số thiết kế của hệ thống nước thải không xác định được hoặc có tính chất xác suất. Và tại một khoảng thời gian nào đó (trong tương lai), nguồn thông tin có thể được coi là xác định, sau đó có thể là xác suất có điều kiện và sau đó nữa có thể là không xác định được (thông tin ở đây có thể hiểu là giá vật liệu, giá nhân công, sự thay đổi công nghệ, sự thay đổi nhu cầu sử dụng nước, sự thay đổi lưu lượng nước thải….vv). Theo thời gian thì chúng ta không biết được thông tin sẽ thay đổi như thế nào, tức là thông tin có thể được chuyển từ không xác định sang xác suất có điều kiện và từ xác suất có điều kiện sang xác định. Rõ ràng, khi lựa chọn cấu trúc và thông số tối ưu của hệ thống thoát nước trong các giai đoạn đầu xây dựng thì cần phải xét đến các trạng thái có thể sau đó.
Nếu một số thông tin ban đầu nào đó được đưa ra trong dạng xác suất thì điều kiện chuyển tiếp (3) từ trạng thái v-1 sang v có thể được coi như kỳ vọng toán học của chi phí trong sự phát triển và tái thiết chúng:


Hình 2. Sơ đồ hệ thống thoát nước (đường nét đậm là sơ đồ hiện đã có, các đường nét mảnh thể hiện sơ đồ dự phòng cho các giai đoạn I, II, III, IV).

Nếu biết trước vốn đầu tư phân bổ cho việc thực hiện giai đoạn đầu tiên thì việc xác định các thông số của nó sẽ đơn giản hơn và được thực hiện trong một bước. Trong đó việc tính toán được thực hiện dựa trên khả năng chuyển tải lưu lượng nước thải từ tất cả các khu vực dân cư, còn trong mô hình tối ưu hóa, các khoản đầu tư cần thiết không được vượt quá khoản phân bổ.
5. Kết luận.
Tài liệu tham khảo
1 TS. Chupin Roman Viktorovich – Tiến sỹ, Nhà nghiên cứu cao cấp tại Bộ môn Xây dựng thành phố và quản lý đô thị, Viện Kiến trúc và Xây dựng, Trường Đại học Nghiên cứu Kỹ thuật Quốc gia Irkutsk – Liên bang Nga, tel. ( 84)973136218, e-mail: chupinvr@istu.edu
2 ThS. Phạm Ngọc Minh – Nghiên cứu sinh tại Bộ môn Xây dựng thành phố và quản lý đô thị, Viện Kiến trúc và Xây dựng, Trường Đại học Nghiên cứu Kỹ thuật Quốc gia Irkutsk – Liên bang Nga
3 GS. TSKH. Chupin Viktor Romanovich – Giáo sư, Tiến sỹ khoa học, Trưởng bộ môn Xây dựng thành phố và quản lý đô thị, Viện trưởng Viện Kiến trúc và Xây dựng, Trường Đại học Nghiên cứu Kỹ thuật Quốc gia Irkutsk – Liên bang Nga
4 ThS. Nguyễn Ngọc Thiệp– Bộ môn Cấp thoát nước, Khoa Môi trường, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh.
VWSA lưu ý hội viên về quy định xử phạt liên quan chất lượng nước sạch sinh hoạt
Hà Nội tăng tốc các dự án chống ngập: Tái cấu trúc không gian nước đô thị
Nhựa Tiền Phong nỗ lực cung cấp sản phẩm đảm bảo ổn định thị trường nhựa xây dựng tại Việt Nam
Đọc thêm
VWSA lưu ý hội viên về quy định xử phạt liên quan chất lượng nước sạch sinh hoạt
Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA) thông tin tới các đơn vị hội viên một số nội dung liên quan lĩnh vực cấp nước sinh hoạt trong Nghị định số 90/2026/NĐ-CP của Chính phủ, trong đó có quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt.
Hà Nội phê duyệt kế hoạch thoát nước, chống ngập nội thành năm 2026
UBND TP. Hà Nội phê duyệt Kế hoạch bảo đảm thoát nước và chống úng ngập khu vực nội thành năm 2026, đặt mục tiêu khai thác tối đa hệ thống thoát nước hiện có, xử lý các điểm ngập phát sinh trong năm 2025 và chủ động vận hành các công trình đầu mối khi mưa lớn.
Đưa bình đẳng giới vào chương trình giám sát tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá XVI
Quốc hội vừa thông qua Nghị quyết về Chương trình giám sát năm 2027 với nhiều nội dung quan trọng. Trong đó có việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2026.
Tăng trưởng xanh: Động lực mới cho doanh nghiệp ngành Nước
Trong bối cảnh các yêu cầu về môi trường, phát thải carbon ngày càng khắt khe, tăng trưởng xanh đang chuyển từ xu hướng sang điều kiện bắt buộc. Với ngành Nước – một trong những lĩnh vực chịu tác động lớn nhất từ biến đổi khí hậu, áp lực chuyển đổi xanh không chỉ đến từ bên ngoài mà còn xuất phát từ nhu cầu tự thân.
Tiếp đà xây dựng kế hoạch hành động về bình đẳng giới tại ngành Nước Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030
Bình đẳng giới trong ngành Nước tại Việt Nam đang ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, những khoảng trống về nhận thức, công cụ triển khai hay sự liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng Kế hoạch hành động giai đoạn 2026 - 2030 với mục tiêu, lộ trình cụ thể.
TS.Trần Anh Tuấn: "Cần thiết lập bản đồ cao độ nền để chống úng ngập tại Hà Nội"
Góp ý với Trung tâm Quản lý hạ tầng kỹ thuật, Sở Xây dựng Hà Nội về "Đề án xử lý úng ngập khu vực nội thành giai đoạn 2026- 2030", TS.Trần Anh Tuấn - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA) cho rằng thành phố cần xác định mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn.
Đề xuất cần 20.000 tỷ cho đề án giải quyết úng ngập tại Hà Nội
Sáng 25/3/2026, tại Trung tâm Quản lý hạ tầng kỹ thuật thành phố Hà Nội đã diễn ra buổi hội thảo góp ý Đề án xử lý úng ngập tại khu vực nội thành Hà Nội. Tại hội thảo, các chuyên gia đã đưa ra nhiều nhận định đa chiều và có những đề xuất thiết thực nhằm thực hiện đề án hiệu quả.
Đẩy nhanh hoàn thiện thể chế, xây dựng Luật Cấp, thoát nước
Bộ Xây dựng đang thúc đẩy hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý cho hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt trong lĩnh vực cấp, thoát nước. Đây là bước chuẩn bị quan trọng cho việc xây dựng Luật Cấp, thoát nước, tạo nền tảng pháp lý đồng bộ cho phát triển hạ tầng đô thị, bảo đảm an ninh nguồn nước, nâng cao chất lượng dịch vụ công.
20 mũi thi công khẩn trương bổ cập nước cải tạo sông Tô Lịch và chống ngập đô thị
Theo Ban Quản lý dự án hạ tầng kỹ thuật và nông nghiệp Hà Nội, hơn 20 mũi thi công đã được huy động trên toàn tuyến kênh Thụy Phương, khẩn trương bổ cập nước cải tạo sông Tô Lịch, và chống ngập đô thị.