Nhiệt độ
Quảng Ninh: Bài toán cấp nước an toàn từ địa hình phức tạp đến biến đổi khí hậu
Điều kiện tự nhiên phức tạp và tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu đặt ra vô vàn khó khăn, thách thức đối với công tác cấp nước sinh hoạt tại Quảng Ninh. Tuy nhiên, với quyết tâm của chính quyền địa phương, nỗ lực vượt bậc của đơn vị cấp nước, tỷ lệ bao phủ dịch vụ cấp nước toàn tỉnh đã đạt gần 82%.
Với diện tích tự nhiên 6.208 km², trong đó hơn 80% diện tích là đồi núi, hệ thống sông suối ngắn và dốc, cùng tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, Quảng Ninh được xem là một trong những địa phương có điều kiện tự nhiên phức tạp nhất đối với công tác cấp nước sinh hoạt. Việc bảo đảm cấp nước an toàn, liên tục cho người dân vì vậy không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà còn là bài toán tổng hợp về quy hoạch, nguồn nước và năng lực vận hành.

Mạng lưới tuyến ống cấp nước tại Quảng Ninh
Tính đến nay, phạm vi cấp nước toàn tỉnh đã đạt 43/54 phường xã, cung cấp nước sạch cho hơn 282.000 hộ dân, tương đương trên 1,2 triệu người. Tổng công suất xử lý đạt gần 238.000 m³/ngày đêm, với mạng lưới 23 nhà máy, khu xử lý nước mặt, 12 giếng ngầm và 02 nguồn nước lộ thiên. Cùng với đó là hệ thống đường ống trải dài hơn 3.700 km. Những con số này phản ánh nỗ lực lớn của ngành Cấp nước Quảng Ninh trong việc mở rộng phạm vi phục vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Tuy nhiên, đi kèm với đó là hàng loạt thách thức mang tính đặc thù, đòi hỏi đơn vị cấp nước phải có cách tiếp cận chủ động và linh hoạt để bảo đảm an toàn cấp nước trong cả ngắn hạn và dài hạn.
Địa hình đồi núi - thách thức ngay từ khâu vận hành
Địa hình chia cắt mạnh khiến hệ thống cấp nước tại Quảng Ninh phải vận hành trong điều kiện chênh lệch cao độ lớn. Để bảo đảm áp lực nước đến từng khu dân cư, trên toàn mạng lưới, Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh đã phải bố trí 71 trạm bơm tăng áp và cục bộ tuyến, 47 van giảm áp.
Việc vận hành nhiều trạm bơm cùng lúc không chỉ làm tăng chi phí sản xuất nước, mà còn gia tăng nguy cơ sự cố trên mạng lưới. Khi xảy ra mưa lớn, sạt lở hoặc mất điện cục bộ, rủi ro gián đoạn cấp nước có thể xuất hiện tại các khu vực địa hình cao hoặc xa trung tâm.
Bên cạnh đó, dân cư phân tán khiến suất đầu tư hạ tầng trên mỗi hộ sử dụng nước cao hơn đáng kể so với các khu đô thị tập trung. Nhiều tuyến ống phải đi qua đồi núi, rừng trồng hoặc khu vực khó tiếp cận, gây khó khăn cho công tác kiểm tra, bảo trì và xử lý sự cố.
Trong quá trình phát triển đô thị, hệ thống cấp nước còn chịu tác động từ các dự án giao thông, chỉnh trang đô thị, thoát nước, cáp điện, cáp viễn thông. Việc di dời, điều chỉnh đường ống thường xuyên không chỉ làm phát sinh chi phí mà còn tiềm ẩn nguy cơ thất thoát nước và gián đoạn cấp nước cục bộ.
Biến đổi khí hậu làm gia tăng rủi ro cấp nước
Nguồn nước thô phục vụ cấp nước sinh hoạt tại Quảng Ninh chủ yếu là nước mặt, chiếm khoảng 85,5% tổng công suất khai thác. Tuy nhiên, đặc điểm chung của các sông, suối trên địa bàn là lưu vực nhỏ - thông thường không quá 300 km2 như sông Thái Bình, sông Ka Long, sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ. Điều này khiến chất lượng nước biến động rất mạnh theo thời tiết.
Trong mùa mưa lũ, độ đục của nước thô tại nhiều khu vực có thể tăng đột biến, có thời điểm lên tới 5.000 - 7.000 NTU. Đây là thách thức lớn đối với công tác xử lý nước, đòi hỏi công nghệ phù hợp và quy trình vận hành linh hoạt để bảo đảm chất lượng nước đầu ra.

Chất lượng nước suy giảm thời điểm sau lũ.
Ngược lại, vào mùa khô, nhiều sông suối và hồ chứa như hồ Yên Lập, hồ Cao Vân, hồ Khe Mai, hồ Đoan Tĩnh, sông Thác Nhồng,… mực nước đều suy giảm rõ rệt. Tình trạng thiếu hụt nguồn nước thô xảy ra cục bộ tại một số khu vực, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cấp nước liên tục, đặc biệt trong các đợt nắng nóng kéo dài.
Nguồn nước ngầm vốn được sử dụng như nguồn dự phòng tại Quảng Ninh cũng đang đối mặt với nguy cơ suy giảm trữ lượng và ô nhiễm. Một số khu vực trên sông Trung Lương cấp nước cho NMN Miếu Hương, sông Mằn cấp nước cho NMN Hoành Bồ, sông Tiên Yên cấp nước cho NMN Tiên Yên đều đã ghi nhận tình trạng xâm nhập mặn.
Bên cạnh đó là tình trạng cạn kiệt nguồn nước ngầm do khai thác quá mức hoặc tác động từ hoạt động sản xuất, khai thác khoáng sản. Nhiều giếng khoan không còn khả năng khai thác, buộc phải dừng sử dụng.

Hồ chứa nước Yên Lập cạn trơ đáy vào mùa khô.
Có thể nhận thấy, những năm gần đây, tác động của biến đổi khí hậu tại Quảng Ninh ngày càng rõ nét. Quy luật thời tiết thay đổi bất thường, nắng nóng kéo dài, lượng mưa phân bố không đều và các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện với tần suất cao hơn.
Hạn hán trong mùa khô làm suy giảm mạnh mực nước tại nhiều hồ chứa và sông suối, trong khi thủy triều và mực nước biển dâng gia tăng nguy cơ xâm nhập mặn tại các khu vực hạ lưu. Điều này đặt ra thách thức lớn trong việc duy trì nguồn nước thô ổn định cho các nhà máy nước.
Song song với đó, tại vị trí thượng nguồn các sông vẫn còn diễn ra các hoạt động xả thải, khai thác khoáng sản, khai thác rừng trồng làm ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng nguồn nước thô. Khu vực Uông Bí, Quảng Yên sử dụng nguồn nước thô từ hồ Yên Lập thông qua hệ thống kênh dẫn và mương dẫn hở về các hồ chứa có nguy cơ phát sinh các hoạt động xả rác thải, sản xuất nông nghiệp... dẫn đến nguy cơ cao về ô nhiễm nguồn nước, thiếu hụt nguồn nước. Chất lượng nước tại một số nguồn nước chưa tốt. Nếu không được kiểm soát chặt chẽ, các yếu tố này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn cấp nước, đặc biệt trong những thời điểm hệ thống chịu áp lực cao.
Chủ động giải pháp để bảo đảm cấp nước an toàn
Trước những thách thức đa chiều, ngành Cấp nước Quảng Ninh đã và đang triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống, hướng tới mục tiêu cấp nước an toàn, liên tục cho người dân.
Một trong những định hướng quan trọng là ưu tiên khai thác nguồn nước mặt từ các hồ chứa, đồng thời nghiên cứu bổ sung các nguồn nước dự phòng để chủ động ứng phó với hạn hán và sự cố nguồn nước. Việc liên kết nguồn, kết nối giữa các nhà máy và khu xử lý nước được xem là giải pháp then chốt nhằm tăng tính linh hoạt cho hệ thống.
Cùng với đó, mạng lưới cấp nước tiếp tục được đầu tư nâng cấp, cải tạo và mở rộng theo hướng liên kết vùng, bảo đảm lưu lượng và áp lực ổn định đến từng khu vực sử dụng nước. Cách tiếp cận này giúp giảm phụ thuộc vào một nguồn cấp đơn lẻ và nâng cao an toàn hệ thống trong điều kiện bất lợi. Đồng thời luôn cập nhật, ứng dụng các công nghệ mới trong xử lý nước nhằm nâng cao chất lượng nước sau xử lý.

Cán bộ kỹ thuật kiểm tra chất lượng nước tại Hồ chứa nước Liên Hòa – Quảng Yên/
Đáng chú ý, công tác quản lý vận hành đang từng bước được hiện đại hóa thông qua ứng dụng công nghệ số, cho phép giám sát áp lực, lưu lượng và chất lượng nước theo thời gian thực. Đây là nền tảng quan trọng để kịp thời phát hiện, xử lý sự cố và tối ưu hóa vận hành trong điều kiện địa hình phức tạp.
Tăng cường kiểm soát chất lượng và trữ lượng nguồn nước thô, đồng thời nghiên cứu, đánh giá các nguồn nước dự phòng nhằm chủ động trong vận hành, giảm thiểu rủi ro thiếu hụt nước vào các thời điểm cao điểm, sự cố hoặc khi xảy ra thay đổi bất lợi về nguồn.
Đầu tư nâng cấp, cải tạo và mở rộng mạng lưới cấp nước, tăng cường năng lực truyền dẫn - phân phối, giảm thất thoát và đảm bảo duy trì cấp nước liên tục 24/7 cho khách hàng.
Thực tiễn từ Quảng Ninh cho thấy, đối với các địa phương có điều kiện tự nhiên phức tạp, bảo đảm cấp nước an toàn không thể chỉ dựa vào mở rộng công suất hay kéo dài mạng lưới. Điều quan trọng hơn là phải chủ động đánh giá rủi ro, xây dựng kịch bản ứng phó và từng bước hiện đại hóa hệ thống theo hướng thông minh, linh hoạt và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Những kinh nghiệm từ Quảng Ninh vì thế có ý nghĩa tham khảo đối với nhiều địa phương trong quá trình triển khai các chương trình bảo đảm an toàn cấp nước và phát triển ngành nước theo hướng hiện đại.
Vy Anh
20 mũi thi công khẩn trương bổ cập nước cải tạo sông Tô Lịch và chống ngập đô thị
VIWASEEN kiện toàn bộ máy lãnh đạo tại Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026
Ứng cử viên HĐND TP.HCM Lê Quốc Tuấn với định hướng nâng cao hiệu quả quản lý đô thị
BVG tiếp tục đồng hành cùng Giải xe đạp nữ quốc tế TP.HCM - Cúp BIWASE 2026
Đọc thêm
Đồng Nai nâng chuẩn tiếp cận nước sạch giai đoạn 2025 - 2030
Đặt mục tiêu đến năm 2030, 92% dân số đô thị được cấp nước sạch tập trung và 85% dân số nông thôn sử dụng nước đạt quy chuẩn, Đồng Nai đang đứng trước yêu cầu tái tổ chức lại hệ thống cấp nước theo hướng đồng bộ, ưu tiên nguồn nước mặt và thu hẹp khoảng cách giữa các khu vực.
Lời giải kỹ thuật cho bài toán vận hành hệ thống cấp nước Quảng Ninh
Việc ứng dụng phối hợp các giải pháp hệ thống giám sát và thu thập giữ liệu (SCADA) - thông tin địa lý (GIS) - phân vùng (DMA) chính là lời giải kỹ thuật cho bài toán vận hành hệ thống cấp nước Quảng Ninh, giúp công tác quản lý chuyển từ phản ứng khi có sự cố sang chủ động giám sát - kiểm soát - tối ưu.
Khi dữ liệu trở thành điều kiện sống còn của ngành cấp nước
Trong bối cảnh áp lực tài chính gia tăng và yêu cầu minh bạch ngày càng cao, ngành cấp nước Việt Nam đang đứng trước đòi hỏi phải chuẩn hóa dữ liệu vận hành. NewIBNET không chỉ là công cụ so sánh quốc tế, mà đang trở thành nền tảng giúp doanh nghiệp nâng cao quản trị và củng cố năng lực tiếp cận nguồn vốn.
Xử lý dứt điểm ô nhiễm hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, tái lập chức năng đa mục tiêu
Trong phiên họp chiều 26/2/2026, Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh, sau 4 năm nghiên cứu kỹ lưỡng, đánh giá toàn diện, không thể tiếp tục để tình trạng ô nhiễm kéo dài như hiện nay.
Từ giảng đường đến dây chuyền sản xuất
Khi giảng đường gắn liền nhà máy, bài toán nguồn nhân lực cho ngành Nước không còn là khoảng trống giữa lý thuyết và thực tiễn.
Hà Nội điều chỉnh, bổ sung danh mục công trình thoát nước do Thành phố quản lý
Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố Hà Nội Dương Đức Tuấn vừa ký ban hành Quyết định số 816/QĐ-UBND ngày 23/02/2026 về việc điều chỉnh, bổ sung Danh mục đường, hè, cây xanh, chiếu sáng, thoát nước do Thành phố quản lý theo Quyết định số 5904/QĐ-UBND ngày 26/11/2025 của UBND Thành phố Hà Nội.
Rà soát quy định quản lý tài sản cấp nước sạch: Nhìn từ kiến nghị của cử tri Sơn La
Việc rà soát quy định giao tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch theo kiến nghị của cử tri Sơn La đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế trong ngành Nước.
Tăng cường kiểm tra an ninh kinh tế năm 2026: Doanh nghiệp ngành Nước cần lưu ý gì?
Theo Kế hoạch số 12/KH-BCA, hoạt động kiểm tra việc chấp hành pháp luật đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh sẽ được triển khai trong năm 2026. Vì vậy, các doanh nghiệp ngành Nước thuộc lĩnh vực hạ tầng thiết yếu cần chủ động rà soát, nhằm duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh ổn định trong quá trình kiểm tra.
Bình đẳng giới trong doanh nghiệp ngành Nước Việt Nam: Từ nhận thức đến thể chế hóa hành động
Trong bối cảnh phát triển bền vững và đổi mới quản trị doanh nghiệp, bình đẳng giới ngày càng được nhìn nhận như một thành tố quan trọng của chất lượng quản trị, thay vì chỉ là một yêu cầu xã hội hay pháp lý.