Quảng Ninh: Bài toán cấp nước an toàn từ địa hình phức tạp đến biến đổi khí hậu

06/02/2026 11:16

Điều kiện tự nhiên phức tạp và tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu đặt ra vô vàn khó khăn, thách thức đối với công tác cấp nước sinh hoạt tại Quảng Ninh. Tuy nhiên, với quyết tâm của chính quyền địa phương, nỗ lực vượt bậc của đơn vị cấp nước, tỷ lệ bao phủ dịch vụ cấp nước toàn tỉnh đã đạt gần 82%.

Với diện tích tự nhiên 6.208 km², trong đó hơn 80% diện tích là đồi núi, hệ thống sông suối ngắn và dốc, cùng tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, Quảng Ninh được xem là một trong những địa phương có điều kiện tự nhiên phức tạp nhất đối với công tác cấp nước sinh hoạt. Việc bảo đảm cấp nước an toàn, liên tục cho người dân vì vậy không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà còn là bài toán tổng hợp về quy hoạch, nguồn nước và năng lực vận hành.

Quảng Ninh: Cấp nước an toàn giữa thách thức địa hình và biến đổi khí hậu - Ảnh 1.

Mạng lưới tuyến ống cấp nước tại Quảng Ninh

Tính đến nay, phạm vi cấp nước toàn tỉnh đã đạt 43/54 phường xã, cung cấp nước sạch cho hơn 282.000 hộ dân, tương đương trên 1,2 triệu người. Tổng công suất xử lý đạt gần 238.000 m³/ngày đêm, với mạng lưới 23 nhà máy, khu xử lý nước mặt, 12 giếng ngầm và 02 nguồn nước lộ thiên. Cùng với đó là hệ thống đường ống trải dài hơn 3.700 km. Những con số này phản ánh nỗ lực lớn của ngành Cấp nước Quảng Ninh trong việc mở rộng phạm vi phục vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ.

Tuy nhiên, đi kèm với đó là hàng loạt thách thức mang tính đặc thù, đòi hỏi đơn vị cấp nước phải có cách tiếp cận chủ động và linh hoạt để bảo đảm an toàn cấp nước trong cả ngắn hạn và dài hạn.

Địa hình đồi núi - thách thức ngay từ khâu vận hành

Địa hình chia cắt mạnh khiến hệ thống cấp nước tại Quảng Ninh phải vận hành trong điều kiện chênh lệch cao độ lớn. Để bảo đảm áp lực nước đến từng khu dân cư, trên toàn mạng lưới, Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh đã phải bố trí 71 trạm bơm tăng áp và cục bộ tuyến, 47 van giảm áp.

Việc vận hành nhiều trạm bơm cùng lúc không chỉ làm tăng chi phí sản xuất nước, mà còn gia tăng nguy cơ sự cố trên mạng lưới. Khi xảy ra mưa lớn, sạt lở hoặc mất điện cục bộ, rủi ro gián đoạn cấp nước có thể xuất hiện tại các khu vực địa hình cao hoặc xa trung tâm.

Bên cạnh đó, dân cư phân tán khiến suất đầu tư hạ tầng trên mỗi hộ sử dụng nước cao hơn đáng kể so với các khu đô thị tập trung. Nhiều tuyến ống phải đi qua đồi núi, rừng trồng hoặc khu vực khó tiếp cận, gây khó khăn cho công tác kiểm tra, bảo trì và xử lý sự cố.

Trong quá trình phát triển đô thị, hệ thống cấp nước còn chịu tác động từ các dự án giao thông, chỉnh trang đô thị, thoát nước, cáp điện, cáp viễn thông. Việc di dời, điều chỉnh đường ống thường xuyên không chỉ làm phát sinh chi phí mà còn tiềm ẩn nguy cơ thất thoát nước và gián đoạn cấp nước cục bộ.

Biến đổi khí hậu làm gia tăng rủi ro cấp nước

Nguồn nước thô phục vụ cấp nước sinh hoạt tại Quảng Ninh chủ yếu là nước mặt, chiếm khoảng 85,5% tổng công suất khai thác. Tuy nhiên, đặc điểm chung của các sông, suối trên địa bàn là lưu vực nhỏ - thông thường không quá 300 km2 như sông Thái Bình, sông Ka Long, sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ. Điều này khiến chất lượng nước biến động rất mạnh theo thời tiết.

Trong mùa mưa lũ, độ đục của nước thô tại nhiều khu vực có thể tăng đột biến, có thời điểm lên tới 5.000 - 7.000 NTU. Đây là thách thức lớn đối với công tác xử lý nước, đòi hỏi công nghệ phù hợp và quy trình vận hành linh hoạt để bảo đảm chất lượng nước đầu ra.

Quảng Ninh: Cấp nước an toàn giữa thách thức địa hình và biến đổi khí hậu - Ảnh 2.

Chất lượng nước suy giảm thời điểm sau lũ.

Ngược lại, vào mùa khô, nhiều sông suối và hồ chứa như hồ Yên Lập, hồ Cao Vân, hồ Khe Mai, hồ Đoan Tĩnh, sông Thác Nhồng,… mực nước đều suy giảm rõ rệt. Tình trạng thiếu hụt nguồn nước thô xảy ra cục bộ tại một số khu vực, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cấp nước liên tục, đặc biệt trong các đợt nắng nóng kéo dài.

Nguồn nước ngầm vốn được sử dụng như nguồn dự phòng tại Quảng Ninh cũng đang đối mặt với nguy cơ suy giảm trữ lượng và ô nhiễm. Một số khu vực trên sông Trung Lương cấp nước cho NMN Miếu Hương, sông Mằn cấp nước cho NMN Hoành Bồ, sông Tiên Yên cấp nước cho NMN Tiên Yên đều đã ghi nhận tình trạng xâm nhập mặn.

Bên cạnh đó là tình trạng cạn kiệt nguồn nước ngầm do khai thác quá mức hoặc tác động từ hoạt động sản xuất, khai thác khoáng sản. Nhiều giếng khoan không còn khả năng khai thác, buộc phải dừng sử dụng.

Quảng Ninh: Cấp nước an toàn giữa thách thức địa hình và biến đổi khí hậu - Ảnh 3.

Hồ chứa nước Yên Lập cạn trơ đáy vào mùa khô.

Có thể nhận thấy, những năm gần đây, tác động của biến đổi khí hậu tại Quảng Ninh ngày càng rõ nét. Quy luật thời tiết thay đổi bất thường, nắng nóng kéo dài, lượng mưa phân bố không đều và các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện với tần suất cao hơn.

Hạn hán trong mùa khô làm suy giảm mạnh mực nước tại nhiều hồ chứa và sông suối, trong khi thủy triều và mực nước biển dâng gia tăng nguy cơ xâm nhập mặn tại các khu vực hạ lưu. Điều này đặt ra thách thức lớn trong việc duy trì nguồn nước thô ổn định cho các nhà máy nước.

Song song với đó, tại vị trí thượng nguồn các sông vẫn còn diễn ra các hoạt động xả thải, khai thác khoáng sản, khai thác rừng trồng làm ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng nguồn nước thô. Khu vực Uông Bí, Quảng Yên sử dụng nguồn nước thô từ hồ Yên Lập thông qua hệ thống kênh dẫn và mương dẫn hở về các hồ chứa có nguy cơ phát sinh các hoạt động xả rác thải, sản xuất nông nghiệp... dẫn đến nguy cơ cao về ô nhiễm nguồn nước, thiếu hụt nguồn nước. Chất lượng nước tại một số nguồn nước chưa tốt. Nếu không được kiểm soát chặt chẽ, các yếu tố này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn cấp nước, đặc biệt trong những thời điểm hệ thống chịu áp lực cao.

Chủ động giải pháp để bảo đảm cấp nước an toàn

Trước những thách thức đa chiều, ngành Cấp nước Quảng Ninh đã và đang triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống, hướng tới mục tiêu cấp nước an toàn, liên tục cho người dân.

Một trong những định hướng quan trọng là ưu tiên khai thác nguồn nước mặt từ các hồ chứa, đồng thời nghiên cứu bổ sung các nguồn nước dự phòng để chủ động ứng phó với hạn hán và sự cố nguồn nước. Việc liên kết nguồn, kết nối giữa các nhà máy và khu xử lý nước được xem là giải pháp then chốt nhằm tăng tính linh hoạt cho hệ thống.

Cùng với đó, mạng lưới cấp nước tiếp tục được đầu tư nâng cấp, cải tạo và mở rộng theo hướng liên kết vùng, bảo đảm lưu lượng và áp lực ổn định đến từng khu vực sử dụng nước. Cách tiếp cận này giúp giảm phụ thuộc vào một nguồn cấp đơn lẻ và nâng cao an toàn hệ thống trong điều kiện bất lợi. Đồng thời luôn cập nhật, ứng dụng các công nghệ mới trong xử lý nước nhằm nâng cao chất lượng nước sau xử lý.

Quảng Ninh: Cấp nước an toàn giữa thách thức địa hình và biến đổi khí hậu - Ảnh 4.

Cán bộ kỹ thuật kiểm tra chất lượng nước tại Hồ chứa nước Liên Hòa – Quảng Yên/

Đáng chú ý, công tác quản lý vận hành đang từng bước được hiện đại hóa thông qua ứng dụng công nghệ số, cho phép giám sát áp lực, lưu lượng và chất lượng nước theo thời gian thực. Đây là nền tảng quan trọng để kịp thời phát hiện, xử lý sự cố và tối ưu hóa vận hành trong điều kiện địa hình phức tạp.

Tăng cường kiểm soát chất lượng và trữ lượng nguồn nước thô, đồng thời nghiên cứu, đánh giá các nguồn nước dự phòng nhằm chủ động trong vận hành, giảm thiểu rủi ro thiếu hụt nước vào các thời điểm cao điểm, sự cố hoặc khi xảy ra thay đổi bất lợi về nguồn.

Đầu tư nâng cấp, cải tạo và mở rộng mạng lưới cấp nước, tăng cường năng lực truyền dẫn - phân phối, giảm thất thoát và đảm bảo duy trì cấp nước liên tục 24/7 cho khách hàng.

Thực tiễn từ Quảng Ninh cho thấy, đối với các địa phương có điều kiện tự nhiên phức tạp, bảo đảm cấp nước an toàn không thể chỉ dựa vào mở rộng công suất hay kéo dài mạng lưới. Điều quan trọng hơn là phải chủ động đánh giá rủi ro, xây dựng kịch bản ứng phó và từng bước hiện đại hóa hệ thống theo hướng thông minh, linh hoạt và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Những kinh nghiệm từ Quảng Ninh vì thế có ý nghĩa tham khảo đối với nhiều địa phương trong quá trình triển khai các chương trình bảo đảm an toàn cấp nước và phát triển ngành nước theo hướng hiện đại.

Vy Anh

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thúc đẩy chuyển đổi số và tối ưu năng lượng trong ngành Nước

Thúc đẩy chuyển đổi số và tối ưu năng lượng trong ngành Nước

Ngành Nước Việt Nam đang đứng trước áp lực chuyển đổi mạnh mẽ khi đồng thời đối mặt với tình trạng khan hiếm tài nguyên, chi phí năng lượng gia tăng và yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả vận hành và hướng tới phát triển bền vững.

SAWACO chủ động ứng phó xâm nhập mặn, bảo đảm cấp nước cho TP.HCM

SAWACO chủ động ứng phó xâm nhập mặn, bảo đảm cấp nước cho TP.HCM

Tình trạng xâm nhập mặn tại khu vực Nam Bộ và TP.HCM đang có xu hướng diễn biến phức tạp dưới tác động của biến đổi khí hậu, hạn hán và thủy triều. Trước thực tế này, Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn TNHH MTV (SAWACO) triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo đảm cung cấp nước sạch ổn định cho người dân TP.HCM.

Bảo đảm an ninh nguồn nước trước mục tiêu tăng trưởng xanh

Bảo đảm an ninh nguồn nước trước mục tiêu tăng trưởng xanh

Tăng trưởng xanh, cam kết Net Zero và tiêu chuẩn ESG đang đặt ngành Nước trước yêu cầu chuyển đổi chưa từng có. Trong khi đó, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và đô thị hóa lại tác động trực tiếp đến an ninh nguồn nước tại Hà Nội và nhiều địa phương. Thực tế này đòi hỏi các nhóm giải pháp đồng bộ và dài hạn hơn.

Thoát nước Hải Phòng chủ động ứng phó trước mùa mưa bão 2026

Thoát nước Hải Phòng chủ động ứng phó trước mùa mưa bão 2026

Những cơn mưa trắng trời xuất hiện dày đặc, triều cường dâng cao bất thường, nước sông nhiều thời điểm chạm ngưỡng báo động… đã khiến bài toán chống ngập đô thị ven biển trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Trước thực tế này, Công ty TNHH MTV Thoát nước Hải Phòng đã chủ động triển khai nhiều giải pháp nhằm ứng phó với mùa mưa bão 2026.

Chi hội Cấp Thoát nước miền Bắc tìm giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu

Chi hội Cấp Thoát nước miền Bắc tìm giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu

Độ mặn tăng, chất lượng nước thô giảm cùng các hiện tượng thời tiết cực đoan đã tạo sức ép lớn lên ngành Cấp Thoát nước. Từ thực tiễn tại Hải Phòng và nhiều địa phương phía Bắc, các chuyên gia, doanh nghiệp ngành Nước đã thảo luận nhằm tìm ra giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu (BĐKH) từ công nghệ, quản trị cho đến chính sách.

Diễn đàn 09/05/2026
SAWACO lấy công nghệ và chuyển đổi số làm “chìa khóa” xây dựng hệ thống cấp nước thông minh

SAWACO lấy công nghệ và chuyển đổi số làm “chìa khóa” xây dựng hệ thống cấp nước thông minh

Trước những áp lực từ biến đổi khí hậu, yêu cầu nâng cao chất lượng dịch vụ và quá trình đô thị hóa, Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn (SAWACO) vẫn để lại nhiều dấu ấn cụ thể nhờ nỗ lực đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong hoạt động vận hành.

Doanh nghiệp 06/05/2026
Tăng trưởng xanh: Động lực mới cho doanh nghiệp ngành Nước

Tăng trưởng xanh: Động lực mới cho doanh nghiệp ngành Nước

Trong bối cảnh các yêu cầu về môi trường, phát thải carbon ngày càng khắt khe, tăng trưởng xanh đang chuyển từ xu hướng sang điều kiện bắt buộc. Với ngành Nước – một trong những lĩnh vực chịu tác động lớn nhất từ biến đổi khí hậu, áp lực chuyển đổi xanh không chỉ đến từ bên ngoài mà còn xuất phát từ nhu cầu tự thân.

Diễn đàn 24/04/2026
Vietnam Water Week 2026: Điểm hội tụ đa phương của ngành Nước trong kỷ nguyên toàn cầu hóa

Vietnam Water Week 2026: Điểm hội tụ đa phương của ngành Nước trong kỷ nguyên toàn cầu hóa

Tuần lễ ngành Nước Việt Nam (Vietnam Water Week) sẽ diễn ra từ ngày 16-18/9/2026 tại Hà Nội. Với vị thế là sự kiện thường niên quy mô lớn nhất của ngành Nước, Tuần lễ ngành Nước Việt Nam không chỉ là một diễn đàn chuyên ngành mà còn là biểu tượng rõ nét cho xu thế toàn cầu hóa và đa phương hóa trong hợp tác phát triển.

Quốc tế 14/04/2026
Nước sạch Hải Dương triển khai mô hình "Dân vận khéo”, nâng cao phúc lợi người lao động

Nước sạch Hải Dương triển khai mô hình "Dân vận khéo”, nâng cao phúc lợi người lao động

Mô hình "dân vận khéo" là một trong những giải pháp cụ thể nhằm góp phần bảo đảm an sinh xã hội, giúp người lao động và cộng đồng được thụ hưởng thành quả phát triển, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Top