Nhiệt độ
Nâng cao chất lượng nước sạch bắt đầu từ quản lý rủi ro
Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2026/NĐ-CP với các quy định cụ thể hơn về trách nhiệm và chế tài đối với hành vi cung cấp nước không bảo đảm chất lượng. Điều này đã đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với công tác quản lý chất lượng nước sạch.
Phóng viên Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam đã có cuộc trao đổi với PGS.TS. Đoàn Thu Hà, Viện trưởng Viện nghiên cứu Cấp Thoát nước và Môi trường về những giải pháp nhằm bảo đảm chất lượng nước sạch, nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro và xây dựng hệ thống cấp nước an toàn trong bối cảnh mới, hướng tới cung cấp nước sạch, an toàn và ổn định cho người dân.

PGS.TS. Đoàn Thu Hà, Viện trưởng Viện nghiên cứu Cấp Thoát nước và Môi trường đã có những chia sẻ cụ thể.
PV: Thưa bà, nước máy cần đáp ứng những tiêu chuẩn nào trước khi được cung cấp cho người dân? Từ góc độ chuyên môn, bà đánh giá như thế nào về các yếu tố có thể tác động đến chất lượng nước tại điểm sử dụng?
PGS.TS. Đoàn Thu Hà: Trước hết cần khẳng định rằng, nước sạch cung cấp cho người dân phải đáp ứng các yêu cầu về chất lượng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và các quy định hiện hành của Bộ Y tế. Chất lượng nước được kiểm soát thông qua nhiều nhóm chỉ tiêu như vi sinh, hóa học và cảm quan nhằm bảo đảm an toàn cho sức khỏe người sử dụng.
Tuy nhiên, chất lượng nước mà người dân trực tiếp sử dụng là chất lượng nước tại điểm dùng, trong khi nước phải trải qua quá trình vận chuyển và phân phối từ nhà máy đến khách hàng. Vì vậy, việc bảo đảm chất lượng nước cần được xem xét trên toàn bộ hệ thống cấp nước, chứ không chỉ tại đầu ra của nhà máy.
Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng nước tại điểm sử dụng như điều kiện vận hành của mạng lưới, tình trạng đường ống, cũng như việc quản lý và vệ sinh bể chứa, bồn chứa tại hộ gia đình. Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nước có thể biến động do điều kiện thời tiết, môi trường, biến đổi khí hậu hoặc các sự cố, nguy cơ ô nhiễm. Những biến động này có thể ảnh hưởng đến quá trình và hiệu quả xử lý, từ đó có nguy cơ tác động đến chất lượng nước đầu ra nếu không được phát hiện và kiểm soát kịp thời. Vì vậy, các đơn vị cấp nước cần tăng cường theo dõi chất lượng nguồn nước để chủ động điều chỉnh quá trình xử lý phù hợp.
Điều tôi muốn nhấn mạnh là cấp nước an toàn không chỉ là nước đạt quy chuẩn tại nhà máy, mà là kiểm soát rủi ro trên toàn bộ hệ thống, từ nguồn nước, công trình xử lý, mạng lưới truyền tải, phân phối đến vòi người sử dụng. Đây cũng chính là cách tiếp cận của Kế hoạch cấp nước an toàn (Water Safety Plan) mà Việt Nam đang triển khai.
PV: Công nghệ hiện nay ở các nhà máy nhỏ hoặc nhà máy được xây dựng từ nhiều năm có đáp ứng được vấn đề xử lý nước sạch, đảm bảo tiêu chuẩn hay không?
PGS.TS. Đoàn Thu Hà: Nhiều nhà máy nước được xây dựng từ khá lâu vẫn có thể cung cấp nước đạt quy chuẩn nếu công nghệ còn phù hợp, công trình được duy tu, cải tạo cần thiết và hệ thống được vận hành đúng quy trình.
Tuổi đời của nhà máy không phải là yếu tố duy nhất quyết định khả năng bảo đảm chất lượng nước. Điều quan trọng là công nghệ xử lý có còn phù hợp với đặc điểm và chất lượng nguồn nước hiện nay hay không; đồng thời công trình, thiết bị có được bảo trì, cải tạo, nâng cấp và hệ thống có được quản lý, vận hành tốt hay không.
Trong bối cảnh chất lượng nguồn nước ngày càng có nhiều biến động do biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn và các nguy cơ ô nhiễm, các nhà máy nước cần thường xuyên đánh giá mức độ phù hợp và hiệu quả của công nghệ xử lý để có kế hoạch cải tạo, nâng cấp tương ứng.
Bên cạnh đầu tư về công nghệ và thiết bị, cần chú trọng năng lực quản lý, vận hành, bảo trì, kiểm soát quy trình và giám sát chất lượng nước. Một công nghệ tốt chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được vận hành và kiểm soát tốt. Đồng thời, các đơn vị cần định kỳ rà soát các nguy cơ theo Kế hoạch cấp nước an toàn để lựa chọn giải pháp kỹ thuật và quản lý phù hợp với từng hệ thống.
PV: Nghị định 90/2026/NĐ-CP đã quy định cụ thể việc xử phạt đối với hành vi cung cấp nước không bảo đảm chất lượng. Theo bà, quy định mới này sẽ tạo ra sự thay đổi thực chất nào trong hoạt động của các doanh nghiệp cấp nước?
PGS.TS. Đoàn Thu Hà: Việc Nghị định 90/2026/NĐ-CP quy định cụ thể hơn trách nhiệm và chế tài liên quan đến chất lượng nước đặt ra yêu cầu các đơn vị cấp nước tiếp tục tăng cường công tác kiểm soát chất lượng và quản lý an toàn hệ thống cấp nước.
Trên thực tế, bảo đảm chất lượng nước luôn là yêu cầu cốt lõi trong hoạt động của các doanh nghiệp cấp nước. Các đơn vị đã và đang thường xuyên kiểm soát chất lượng nước, duy trì hoạt động của các công trình xử lý, quản lý vận hành mạng lưới và từng bước đầu tư cải tạo, nâng cấp hệ thống nhằm bảo đảm nước cung cấp đáp ứng các yêu cầu về chất lượng.
Trong bối cảnh chất lượng nguồn nước có nhiều biến động, các nguy cơ ô nhiễm ngày càng phức tạp, trong khi hệ thống phải vận hành liên tục và bảo đảm cấp nước ổn định, cùng với việc tuân thủ các quy định về chất lượng nước, các doanh nghiệp cần tiếp tục đẩy mạnh cách tiếp cận chủ động quản lý rủi ro, giám sát, cảnh báo sớm và nâng cao năng lực ứng phó với các tình huống bất thường. Khi các nguy cơ được nhận diện và kiểm soát từ sớm, khả năng xảy ra các sự cố ảnh hưởng đến chất lượng nước sẽ được hạn chế.
Để các quy định mới thực sự phát huy hiệu quả, bên cạnh trách nhiệm của doanh nghiệp cấp nước cũng cần có sự phối hợp của các cơ quan quản lý và các bên liên quan trong bảo vệ nguồn nước, kiểm soát nguy cơ ô nhiễm và tạo điều kiện để các đơn vị cấp nước đầu tư, nâng cấp hệ thống. Mục tiêu chung cuối cùng vẫn là nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo đảm cung cấp nước sạch, an toàn, ổn định cho người dân.

Để nâng cao chất lượng nước máy một cách bền vững, cần có các giải pháp đồng bộ từ bảo vệ nguồn nước, công trình xử lý đến mạng lưới truyền tải và phân phối (Ảnh minh họa).
PV: Khi doanh nghiệp vừa là đơn vị cung cấp nước, vừa tự lấy mẫu và kiểm soát chất lượng sản phẩm của mình, cần có cơ chế giám sát độc lập như thế nào để bảo đảm tính khách quan?
PGS.TS. Đoàn Thu Hà: Việc các đơn vị cấp nước chủ động lấy mẫu, theo dõi và kiểm soát chất lượng nước thường xuyên là yêu cầu cần thiết và cũng là trách nhiệm trực tiếp của đơn vị cung cấp nước. Đây là một phần quan trọng trong quản lý, vận hành nhằm kịp thời phát hiện những bất thường và bảo đảm chất lượng nước cung cấp cho người dân.
Để bảo đảm tính khách quan, bên cạnh hoạt động tự kiểm soát của doanh nghiệp, cần duy trì cơ chế giám sát của cơ quan quản lý nhà nước theo quy định hiện hành; đồng thời tăng cường tính minh bạch trong kiểm soát và cung cấp thông tin về chất lượng nước.
Một nội dung quan trọng khác là thực hiện và đánh giá Kế hoạch cấp nước an toàn. Thay vì chỉ tập trung kiểm tra chất lượng sản phẩm cuối cùng, cần xem xét việc nhận diện và kiểm soát các nguy cơ trong toàn bộ quá trình cấp nước.
Theo tôi, điều quan trọng không phải là tăng số lượng các hoạt động kiểm tra, mà là xây dựng cơ chế giám sát phù hợp gắn với quản lý rủi ro thực chất và hiệu quả. Khi các nguy cơ được chủ động nhận diện, phòng ngừa và kiểm soát từ sớm sẽ hạn chế được các sự cố ảnh hưởng đến chất lượng nước. Đây cũng là hướng tiếp cận cần tiếp tục được thúc đẩy nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng nước, hỗ trợ các đơn vị cấp nước thực hiện tốt trách nhiệm và củng cố niềm tin của người dân đối với nước máy.
PV: Để nâng cao chất lượng nước máy một cách căn cơ, chúng ta có các giải pháp nào về công nghệ để xử lý tốt vấn đề này?
PGS.TS. Đoàn Thu Hà: Để nâng cao chất lượng nước máy một cách bền vững, cần có các giải pháp đồng bộ từ bảo vệ nguồn nước, công trình xử lý đến mạng lưới truyền tải và phân phối.
Trước hết, cần tăng cường bảo vệ nguồn nước, kiểm soát các nguy cơ ô nhiễm và nâng cao khả năng ứng phó với những biến động bất thường. Đây là giải pháp nền tảng, bởi chất lượng nước đầu vào ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả xử lý và chi phí cung cấp nước.
Thứ hai, các đơn vị cấp nước cần thường xuyên rà soát công trình, thiết bị và mạng lưới để có kế hoạch bảo trì, cải tạo, nâng cấp phù hợp; đồng thời nâng cao năng lực quản lý, vận hành và giám sát chất lượng nước. Duy trì tốt các công trình hiện có và vận hành đúng quy trình cũng quan trọng không kém việc đầu tư công nghệ mới.
Thứ ba, về công nghệ xử lý, cần căn cứ vào đặc điểm, chất lượng và các nguy cơ của từng nguồn nước để lựa chọn, cải tạo hoặc bổ sung các công đoạn xử lý phù hợp, thay vì áp dụng một mô hình chung. Khi chất lượng nguồn nước biến động hoặc xuất hiện các nguy cơ ô nhiễm mới, cần kịp thời đánh giá khả năng đáp ứng của dây chuyền hiện có để có giải pháp điều chỉnh hoặc nâng cấp.
Bên cạnh đó, cần từng bước đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, tự động hóa và chuyển đổi số nhằm hỗ trợ quản lý, vận hành, giám sát chất lượng nước và cảnh báo sớm. Việc ứng dụng cần phù hợp với quy mô, điều kiện và năng lực của từng đơn vị để bảo đảm tính khả thi và hiệu quả.
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là bảo đảm nước đạt quy chuẩn tại đầu ra của nhà máy, mà còn phải duy trì chất lượng nước an toàn và ổn định trong suốt quá trình truyền tải, phân phối đến người sử dụng. Đây cũng là một trong những mục tiêu quan trọng của cấp nước an toàn.
PV: Xin trân trọng cảm ơn!
Khiêm Anh
BIWASE thuộc Top 100 doanh nghiệp tư nhân nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam
Vietnam Water Week 2026: Kết nối chính sách, công nghệ, đầu tư và hợp tác quốc tế ngành Nước trong kỷ nguyên mới
Cấp nước Phú Thọ: Phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng dịch vụ cấp nước
SAWACO và HCDC tăng cường truyền thông, nâng cao trách nhiệm kiểm soát chất lượng nước sạch
Đọc thêm
Nhựa Tiền Phong và hành trình xanh hoá theo chuẩn ESG
Trong bối cảnh toàn cầu chuyển mình sang phát triển bền vững và kinh doanh có trách nhiệm, Công ty Cổ phần Nhựa Thiếu niên Tiền Phong (NTP) đang đẩy nhanh lộ trình triển khai bộ tiêu chuẩn ESG nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, hướng tới mục tiêu tăng trưởng bền vững và hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Kiểm soát ngập úng, phục hồi các dòng sông ở Hà Nội góp phần tăng cường khả năng thích ứng biến đổi khí hậu
LTS: Trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa nhanh, ngập úng đang được xem là một trong những điểm nghẽn lớn đối với phát triển bền vững của Hà Nội. Việc kiểm soát ngập úng và phục hồi các dòng sông ở Hà Nội sẽ góp phần tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH).
Thiết bị tách dầu mỡ - Giải pháp hiệu quả bảo vệ hệ thống thoát nước đô thị
Xuất phát từ chính yêu cầu thực tiễn, Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội đã phát triển công nghệ thiết bị tách dầu mỡ kiểm soát ô nhiễm từ đầu nguồn, mở ra hướng tiếp cận hiệu quả, bền vững cho quản lý hệ thống thoát nước đô thị.
Công nghệ khử mặn nước và ứng dụng
LTS: Trong bối cảnh nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm do biến đổi khí hậu và gia tăng nhu cầu sử dụng, công nghệ khử mặn đang trở thành giải pháp quan trọng bảo đảm an ninh nguồn nước. Bài viết giới thiệu các công nghệ khử mặn phổ biến, xu hướng phát triển và tiềm năng ứng dụng trong cấp nước sinh hoạt, sản xuất tại Việt Nam.
Từ những sáng kiến nhỏ đến lời giải cho bài toán lớn của ngành Nước
Chuyển đổi số, tối ưu vận hành, phát triển xanh và nâng cao chất lượng dịch vụ đang là những bài toán lớn đặt ra cho ngành Nước của Việt Nam. Thông qua Giải thưởng Cán bộ trẻ ngành Nước Việt Nam năm 2026, nhiều sáng kiến xuất phát từ thực tiễn cho thấy vai trò ngày càng nổi bật của đội ngũ cán bộ trẻ.
Xanh hóa ngành Nước với những vật liệu nhựa thế hệ mới
Thời gian gần đây, khái niệm "vật liệu nhựa thế hệ mới" đang được cho là giải pháp cam kết dẫn truyền nguồn nước sạch an toàn cho sức khỏe con người, đồng thời cho thấy độ bền vượt trội với khả năng thích ứng linh hoạt và giảm thiểu carbon phát thải ra môi trường.
Huế hoàn thành thi công trạm cấp nước sạch cho người dân khu vực Chân Mây - Lăng Cô sau 28 giờ
Tối ngày 25/6/2026, sau 28 giờ thi công khẩn trương liên tục, Công ty CP Cấp nước Huế đã thi công hoàn thành và đưa vào vận hành trạm bơm, tuyến ống D160 và hệ thống điện nhằm đảm bảo bổ sung nước thô từ 1.500 - 2.000m3/ngày đêm để phục vụ cho người dân ở khu vực Chân Mây - Lăng Cô.
Hà Nội và bài toán giữ không gian cho nước
Ngập úng tại Hà Nội không chỉ đến từ mưa lớn hay năng lực hệ thống thoát nước hạn chế. Trong quá trình đô thị hóa nhanh, cách quy hoạch đất, kiểm soát mặt phủ, cao độ nền hay không gian dành cho nước đang trở thành những yếu tố cần được nhìn nhận đầy đủ hơn.
Bể điều tiết ngầm: Từ công trình kỹ thuật đến tư duy quản lý nước mưa hiện đại
Việc Hà Nội nghiên cứu xây dựng hệ thống bể điều tiết ngầm trong Đề án xử lý úng ngập giai đoạn 2026 - 2030 không chỉ mở ra một giải pháp kỹ thuật mới cho công tác chống ngập mà còn phản ánh xu hướng quản lý nước mưa đô thị hiện đại, hướng tới thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) và phát triển bền vững.