Nhiệt độ
Thoát nước đô thị Việt Nam sau ba thập kỷ đầu tư: Khoảng cách giữa công trình và hiệu quả môi trường
Sau hơn ba thập kỷ đầu tư cho hạ tầng thoát nước và xử lý nước thải, nhiều đô thị Việt Nam đã hình thành các nhà máy xử lý nước thải quy mô lớn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy không ít dòng sông đô thị vẫn ô nhiễm kéo dài, cho thấy hệ thống thoát nước còn thiếu đồng bộ.
Khi những dòng sông đô thị vẫn chưa thể "hồi sinh"
Hiện nay, tại nhiều sông và kênh rạch nội đô đang phải tiếp nhận lượng nước thải sinh hoạt ngày càng lớn cùng với quá trình đô thị hóa, đặc biệt tại các khu vực dân cư đông đúc. Đây là vấn đề thường xuyên được nhắc tới trong các cuộc thảo luận về phát triển hạ tầng và môi trường đô thị. Từ thực tế đó đặt ra một câu hỏi đáng suy nghĩ: Vì sao nhiều nhà máy xử lý nước thải đã được xây dựng, nhưng chất lượng môi trường nước đô thị vẫn chưa được cải thiện rõ rệt?

Tại một số vị trí, đặc biệt là khu vực cửa xả phía Tây của hồ Phai Loạn (phường Tam Thanh, Lạng Sơn) xuất hiện lớp váng nổi trên mặt nước kèm theo mùi hôi. Ảnh: Khánh Linh
Theo Chủ tịch Hội Cấp Thoát nước Việt Nam, TS. Nguyễn Ngọc Điệp, vấn đề không nằm ở việc thiếu công trình xử lý nước thải. Trong hơn ba thập kỷ qua, cùng với quá trình đô thị hóa nhanh chóng, Việt Nam đã đầu tư rất lớn cho lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải. Nhiều dự án quy mô lớn được triển khai, nhiều nhà máy xử lý nước thải hiện đại đã đi vào vận hành tại các đô thị. Tuy nhiên, còn thiếu cách tiếp cận phát triển mang tính hệ thống cho toàn bộ chuỗi dịch vụ nước thải đô thị. Khi hệ thống thu gom chưa hoàn chỉnh, tỷ lệ đấu nối còn thấp và công tác quản lý vận hành chưa đồng bộ, khiến cho các công trình xử lý nước thải giảm công năng.
Lượng nước thải sinh hoạt tại các đô thị ngày càng tăng cùng với quá trình đô thị hóa và gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ thu gom và xử lý vẫn còn hạn chế. Ở nhiều nơi, nước thải vẫn xả vào hệ thống cống chung rồi chảy trực tiếp ra sông, hồ hoặc kênh rạch. Việc nhiều đô thị vẫn sử dụng hệ thống thoát nước chung cho cả nước mưa và nước thải cũng khiến mạng lưới dễ quá tải khi mưa lớn, làm gia tăng nguy cơ nước thải chưa qua xử lý tràn ra môi trường…
Hệ quả của tình trạng này không chỉ dừng lại ở ô nhiễm nguồn nước mà còn kéo theo sự suy giảm cảnh quan đô thị, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng sống của người dân. Một số nghiên cứu cũng cho thấy ô nhiễm môi trường nước có thể gây ra những chi phí kinh tế đáng kể, từ chi phí y tế, thiệt hại môi trường cho đến sự suy giảm giá trị không gian đô thị.
Trong bối cảnh đó, việc xây dựng thêm các nhà máy xử lý nước thải vẫn là cần thiết. Tuy nhiên, chỉ riêng các công trình này khó có thể giải quyết triệt để vấn đề nếu toàn bộ hệ thống thoát nước, từ khâu thu gom đến đấu nối, chưa được tổ chức đồng bộ.
Thực tế tại một số đô thị lớn cho thấy những hạn chế này vẫn còn khá rõ. Tại TP.HCM, lượng nước thải sinh hoạt phát sinh mỗi ngày ước khoảng 1,57 triệu m³ nhưng chỉ khoảng 300.000 m³ được xử lý. Phần lớn nước thải vẫn chảy qua các kênh Tàu Hủ, Nhiêu Lộc - Thị Nghè, Tham Lương - Bến Cát trước khi đổ ra sông Sài Gòn. Điều này cho thấy khoảng cách giữa lượng nước thải phát sinh và năng lực thu gom, xử lý vẫn còn khá lớn, dù thành phố đã triển khai nhiều dự án nhà máy xử lý nước thải trong những năm gần đây.
Tình trạng ô nhiễm nguồn nước cũng được ghi nhận tại một số địa phương khác. Tháng 12/2025, hàng trăm hộ dân xã Mỹ Yên, tỉnh Tây Ninh (khu vực huyện Bến Lức, tỉnh Long An cũ) phản ánh tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng tại kênh Mười Thế. Nước kênh chuyển màu đen, mùi hôi bốc lên suốt ngày đêm, cá chết hàng loạt khiến sinh hoạt của người dân bị ảnh hưởng. Theo người dân, kênh Mười Thế là tuyến thoát nước của khu vực, tiếp nhận nước thải sinh hoạt của nhiều hộ dân và một phần nước thải từ Khu công nghiệp Vĩnh Lộc 2. Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm thời gian gần đây được cho là nghiêm trọng hơn so với trước.
Tại Lạng Sơn, nguy cơ ô nhiễm cục bộ cũng được ghi nhận tại một số thủy vực đô thị. Ngày 3/10/2025, đoàn kiểm tra liên ngành của phường Tam Thanh đã kiểm tra thực trạng môi trường tại hồ Phai Loạn và ghi nhận tại một số vị trí, đặc biệt là khu vực cửa xả phía Tây của hồ vẫn xuất hiện lớp váng nổi trên mặt nước kèm theo mùi hôi.
Theo thông tin từ Bộ Xây dựng, tại một số đô thị hiện nay, dù đã có nhà máy xử lý nước thải tập trung nhưng nhiều công trình vẫn chưa đạt công suất thiết kế. Nguyên nhân chủ yếu là tỷ lệ đấu nối từ các hộ gia đình còn thấp và mạng lưới thu gom chưa được đầu tư đồng bộ. Bên cạnh đó, công tác dự báo trong quy hoạch thoát nước tại nhiều địa phương cũng chưa theo kịp những tác động ngày càng rõ rệt của biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan.
Cần chuyển từ tư duy công trình sang tư duy hệ thống
Theo nhiều chuyên gia, một trong những nguyên nhân cốt lõi của những bất cập hiện nay nằm ở cách tiếp cận phát triển hạ tầng thoát nước trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, các thành phần quan trọng khác của hệ thống lại chưa được quan tâm tương xứng. Như mạng lưới cống nhánh trong khu dân cư, việc đấu nối hộ gia đình vào hệ thống thu gom, quản lý các nguồn xả thải phân tán hay hệ thống dữ liệu phục vụ quản lý vận hành vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ. Khi những mắt xích này chưa hoàn thiện, nhiều nhà máy xử lý nước thải dù được đầu tư hiện đại vẫn khó phát huy hết công suất thiết kế.

Hình ảnh ghi nhận vào tháng 11/2025 khi sông Tô Lịch bất ngờ "đổi màu" sau 2 tháng trong xanh. Ảnh: CTV
Trường hợp sông Tô Lịch (Hà Nội) là một ví dụ thường được nhắc đến. Tháng 9/2025, nước sông từng trở nên trong xanh khi được bổ cập nước từ Hồ Tây. Tuy nhiên chỉ sau một thời gian ngắn, dòng sông lại quay trở về tình trạng quen thuộc với nước sẫm màu, mùi hôi và rác nổi trên mặt nước. Nhiều năm qua, người dân sống dọc hai bờ sông đã chứng kiến không ít nỗ lực cải tạo và khử mùi, nhưng kết quả thường chỉ mang tính tạm thời.
Theo cơ quan quản lý hạ tầng Hà Nội, các cửa xả dọc sông đã được thu gom và đấu nối về Nhà máy xử lý nước thải Yên Xá, đồng thời thành phố triển khai bổ cập nước để duy trì mực nước sông. Tuy vậy, tình trạng ô nhiễm vẫn chưa được cải thiện rõ rệt. Nguyên nhân chủ yếu là lượng nước thải đô thị phát sinh lớn, trong khi hệ thống thu gom chưa khép kín, khiến nước thải vẫn tiếp tục chảy vào sông từ nhiều nguồn khác nhau.
Tại nhiều đô thị, một phần nước thải sinh hoạt vẫn xả vào các tuyến cống không kết nối với hệ thống xử lý tập trung hoặc vào các hệ thống thoát nước tự phát. Bên cạnh đó, phần lớn hộ gia đình sử dụng bể tự hoại nên nước thải được xử lý sơ bộ trước khi chảy vào hệ thống thoát nước chung. Điều này làm giảm nồng độ ô nhiễm của nước thải đầu vào, khiến một số công nghệ xử lý tại nhà máy không vận hành đúng như thiết kế.
Ngoài yếu tố kỹ thuật, lĩnh vực thoát nước còn đối mặt với nhiều thách thức về tài chính. Tại nhiều địa phương, nguồn thu từ phí hoặc giá dịch vụ thoát nước vẫn ở mức thấp, chưa đủ bù đắp chi phí vận hành và bảo trì hệ thống. Vì vậy, nhiều dự án xử lý nước thải vẫn phụ thuộc lớn vào ngân sách nhà nước hoặc các nguồn vốn vay ưu đãi.
Trong khi đó, kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc phát triển bền vững hệ thống thoát nước đô thị cần sự tham gia của nhiều nguồn lực, trong đó có khu vực tư nhân và cộng đồng. Để làm được điều này, cơ chế tài chính và chính sách giá dịch vụ thoát nước cần được điều chỉnh phù hợp với thực tế vận hành.
Theo TS Nguyễn Ngọc Điệp, bài học lớn nhất của ngành Thoát nước Việt Nam trong hơn ba thập kỷ qua là cần chuyển từ tư duy xây dựng công trình sang tư duy phát triển hệ thống. Thoát nước đô thị không chỉ là câu chuyện xây dựng nhà máy xử lý nước thải mà phải được nhìn nhận như một chuỗi dịch vụ đô thị liên hoàn, bao gồm thu gom, vận chuyển, xử lý, quản lý vận hành và cơ chế tài chính bền vững.
Trong giai đoạn tới, chiến lược phát triển ngành Thoát nước cần tập trung vào việc hoàn thiện mạng lưới thu gom nước thải trong khu dân cư, nâng cao tỷ lệ đấu nối vào hệ thống xử lý tập trung, đồng thời cải thiện cơ chế tài chính để bảo đảm nguồn lực vận hành lâu dài.
Quan trọng hơn, hiệu quả của các dự án thoát nước không nên chỉ được đánh giá qua số lượng công trình được xây dựng, mà phải dựa trên mức độ cải thiện thực sự của chất lượng môi trường nước đô thị và khả năng vận hành bền vững của toàn bộ hệ thống.
Mai Thanh
Mở lối kênh rạch, giảm áp lực thoát nước đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh
Phát động Tuần lễ Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn 2026
Bước tiến mới cho hạ tầng thoát nước đô thị với sản phẩm ống HDPE gân sóng 2 lớp của DEKKO
Kiến tạo môi trường đô thị an toàn, bền vững: Nhựa Tiền Phong đồng hành cùng chương trình “Giao thông xanh”
Đọc thêm
Đô thị miền núi cần một cách tiếp cận mới trong quản lý ngập lụt
Từ trường hợp tỉnh Cao Bằng, PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương cho rằng đô thị miền núi cần chuyển từ tư duy thoát nước bằng công trình cứng sang “sống cùng nước”, tổ chức phát triển theo lưu vực, dành không gian điều tiết và dùng dữ liệu để chủ động ứng phó ngập lụt.
Tăng trưởng xanh: Động lực mới cho doanh nghiệp ngành Nước
Trong bối cảnh các yêu cầu về môi trường, phát thải carbon ngày càng khắt khe, tăng trưởng xanh đang chuyển từ xu hướng sang điều kiện bắt buộc. Với ngành Nước – một trong những lĩnh vực chịu tác động lớn nhất từ biến đổi khí hậu, áp lực chuyển đổi xanh không chỉ đến từ bên ngoài mà còn xuất phát từ nhu cầu tự thân.
Hà Nội còn nhiều việc phải làm để gỡ "điểm nghẽn" nước thải đô thị
Hà Nội đã và đang từng bước đầu tư hạ tầng xử lý nước thải, đưa vào vận hành 8 nhà máy, trạm xử lý tập trung với tổng công suất hơn 521.000m3/ngày đêm. Tuy vậy, tỷ lệ thu gom, xử lý nước thải đô thị mới đạt khoảng 50,2%, cho thấy đây vẫn là "điểm nghẽn" lớn trong công tác bảo vệ môi trường của Thủ đô.
Xử lý nước thải sinh hoạt bằng công nghệ sinh thái, tạo cảnh quan xanh
Tại khu homestay ALăng Như (phường Hải Vân, TP. Đà Nẵng), mô hình xử lý nước thải sinh hoạt bằng công nghệ sinh thái bước đầu cho thấy hiệu quả rõ nét, vừa bảo đảm môi trường, vừa tạo cảnh quan xanh phục vụ du lịch cộng đồng.
Nâng cao vai trò phụ nữ trong các doanh nghiệp ngành Nước tại Việt Nam: Từ đối thoại tới hành động
Ngày 03/4/2026, Báo Phụ nữ TP. HCM phối hợp cùng Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn TNHH MTV (SAWACO) tổ chức chương trình tọa đàm chuyên đề: "Nâng cao vai trò phụ nữ trong các doanh nghiệp ngành Nước tại Việt Nam".
Vật liệu tăng giá: Thách thức mới với ngành sản xuất ống nhựa và hạ tầng cấp thoát nước
Làn sóng tăng giá nguyên liệu nhựa toàn cầu đang tạo sức ép trực tiếp lên ngành sản xuất ống nhựa tại Việt Nam, qua đó kéo theo nguy cơ đội chi phí các dự án cấp nước, thoát nước và chống ngập.
Tiếp đà xây dựng kế hoạch hành động về bình đẳng giới tại ngành Nước Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030
Bình đẳng giới trong ngành Nước tại Việt Nam đang ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, những khoảng trống về nhận thức, công cụ triển khai hay sự liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng Kế hoạch hành động giai đoạn 2026 - 2030 với mục tiêu, lộ trình cụ thể.
Hồ điều hòa Yên Nghĩa: "Van điều tiết" chống ngập chiến lược phía Tây Hà Nội
Là một trong các dự án chống ngập khẩn cấp, dự án hồ điều hòa Yên Nghĩa 1 và Yên Nghĩa 2 tại xã An Khánh đang được đẩy nhanh tiến độ, kỳ vọng trở thành hạ tầng điều tiết nước quy mô lớn, góp phần tái cấu trúc hệ thống thoát nước đô thị theo hướng bền vững.
TS.Trần Anh Tuấn: "Cần thiết lập bản đồ cao độ nền để chống úng ngập tại Hà Nội"
Góp ý với Trung tâm Quản lý hạ tầng kỹ thuật, Sở Xây dựng Hà Nội về "Đề án xử lý úng ngập khu vực nội thành giai đoạn 2026- 2030", TS.Trần Anh Tuấn - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA) cho rằng thành phố cần xác định mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn.