Siết chặt một số quy định trong quản lý tài nguyên nước

21/01/2026 09:30

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 23/2026/NĐ-CP ngày 17/01/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định trong lĩnh vực tài nguyên nước.

Nghị định tập trung điều chỉnh các quy định liên quan đến quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông liên tỉnh, cấp phép khai thác - sử dụng nguồn nước, thăm dò nước dưới đất và cơ chế tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

“Siết lại” một số quy định trong quản lý tài nguyên nước  - Ảnh 1.

Nghị định số 53/2024/NĐ-CP quy định cụ thể nhiều nội dung trong quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước. Ảnh minh họa: Dương Xuân Bình

Thực tiễn mới, mục tiêu mới

Luật Tài nguyên nước năm 2023 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2024) đặt ra yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ mô hình quản lý tài nguyên nước theo hướng tổng hợp, liên ngành, liên vùng và thích ứng với biến đổi khí hậu. Để bảo đảm tính thống nhất và khả thi trong tổ chức thực hiện Luật, Chính phủ đã ban hành một loạt nghị định hướng dẫn, trong đó có Nghị định số 53/2024/NĐ-CP và Nghị định số 54/2024/NĐ-CP.

Sau hơn một năm triển khai, thực tiễn quản lý cho thấy một số quy định cần tiếp tục được làm rõ, điều chỉnh và bổ sung. Trong bối cảnh đó, Nghị định 23/2026/NĐ-CP được ban hành với mục tiêu: Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông liên tỉnh; Nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm xã hội trong hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước; Chuẩn hóa điều kiện kỹ thuật và cơ chế kinh tế trong quản lý tài nguyên nước.

Theo đó, Nghị định tiến hành sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 53/2024/NĐ-CP ngày 16/5/2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước. Cụ thể, Nghị định quy định chi tiết Điều 7, khoản 5 Điều 9, Điều 10, khoản 5 Điều 17, Điều 19, khoản 9 Điều 23, Điều 30, khoản 5 Điều 31, Điều 35, khoản 3 Điều 37, khoản 10 Điều 38, khoản 3 Điều 51, khoản 10 Điều 63, khoản 6 Điều 66, khoản 5 Điều 71, khoản 5 Điều 81 của Luật Tài nguyên nước.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định chi tiết khoản 3 Điều 31, Điều 52, khoản 4 Điều 53, khoản 6 Điều 69 và Điều 70 của Luật Tài nguyên nước về việc cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất; việc kê khai, đăng ký, cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; việc nộp, miễn, giảm tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; dịch vụ về tài nguyên nước.

Bổ sung quy định về quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông liên tỉnh

Một điểm mới quan trọng của Nghị định 23/2026/NĐ-CP là việc bổ sung Điều 10a vào Nghị định số 53/2024/NĐ-CP, quy định cụ thể nội dung quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước và hạ tầng thủy lợi lưu vực sông liên tỉnh.

Theo đó, quy hoạch không chỉ dừng ở phân bổ nguồn nước mà còn bao gồm: Đánh giá hiện trạng tài nguyên nước, nhu cầu khai thác - sử dụng; Phân tích rủi ro liên quan đến nước (hạn hán, ngập lụt, suy thoái, ô nhiễm, xâm nhập mặn); Định hướng điều hòa, phân phối và bảo vệ nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Quy hoạch theo lưu vực sông liên tỉnh tạo nền tảng pháp lý quan trọng để các hệ thống cấp nước đô thị và khu công nghiệp được xem xét trong tổng thể cân bằng nguồn nước, giảm xung đột khai thác giữa các địa phương.

Nghị định 23/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các quy định về lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư trong quá trình cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, đặc biệt đối với các công trình có quy mô lớn hoặc nguy cơ tác động đến sinh kế, môi trường và cấp nước sinh hoạt. Quy định này thể hiện rõ quan điểm quản lý tài nguyên nước dựa trên nguyên tắc công khai, minh bạch và có sự tham gia của xã hội, phù hợp với xu hướng quản trị nước hiện đại. Đối với doanh nghiệp cấp nước, đây vừa là yêu cầu tuân thủ, vừa là cơ hội tăng cường đồng thuận xã hội trong đầu tư phát triển hạ tầng.

Điều chỉnh điều kiện hành nghề khoan nước dưới đất

Nghị định sửa đổi một số điều của Nghị định số 54/2024/NĐ-CP, theo hướng chuẩn hóa điều kiện về năng lực chuyên môn, nhân sự và thiết bị của tổ chức, cá nhân hành nghề khoan nước dưới đất; Đồng thời làm rõ thủ tục cấp lại, điều chỉnh giấy phép khi có thay đổi về điều kiện hành nghề.

Việc cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước và giấy phép thăm dò nước dưới đất phải dựa trên căn cứ sau đây:

Thứ nhất là quy hoạch về tài nguyên nước (chức năng nguồn nước; giới hạn khai thác đối với từng sông, đoạn sông; ngưỡng giới hạn khai thác tầng chứa nước; bảo vệ tài nguyên nước, phòng chống suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước); quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch chi tiết ngành có nội dung khai thác, sử dụng tài nguyên nước; quy định vùng cấm, hạn chế khai thác nước dưới đất; trường hợp chưa có các quy hoạch hoặc quy hoạch chưa quy định cụ thể, chưa ban hành vùng cấm, hạn chế khai thác nước dưới đất hoặc phải giải quyết nhu cầu cấp bách trong việc cấp nước sinh hoạt cho nhân dân thì phải căn cứ vào khả năng đáp ứng của nguồn nước và tính cấp thiết về nhu cầu khai thác, sử dụng nước.

Thứ hai là hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong vùng; quy định bảo vệ, điều hòa, phân phối, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục tác hại do nước gây ra.

Thứ ba là kết quả thẩm định của cấp có thẩm quyền về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước và giấy phép thăm dò nước dưới đất.

Thứ tư là nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên nước thể hiện trong văn bản đề nghị cấp giấy phép.

Nghị định nêu rõ trường hợp cấp giấy phép khai thác nước dưới đất, giấy phép thăm dò nước dưới đất còn phải căn cứ vào quy định tại Điều 30 và khoản 4 Điều 31 của Luật Tài nguyên nước.

Việc siết chặt điều kiện hành nghề góp phần hạn chế khai thác nước dưới đất tự phát, thiếu kiểm soát - một trong những nguyên nhân gây sụt lún, suy giảm mực nước ngầm tại nhiều đô thị hiện nay.

Điều chỉnh các quy định về thời hạn cấp phép khai thác tài nguyên nước

“Siết lại” một số quy định trong quản lý tài nguyên nước  - Ảnh 2.

Giấy phép khai thác nước mặt có thời hạn tối đa 10 năm, tối thiểu 05 năm. Ảnh minh họa: Nguyễn Linh Vinh Quốc

Giấy phép khai thác nước mặt có thời hạn tối đa 10 năm, tối thiểu 05 năm và được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn 05 năm;

Giấy phép khai thác nước biển có thời hạn tối đa 15 năm, tối thiểu 10 năm và được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn 10 năm;

Giấy phép khai thác nước dưới đất có thời hạn tối đa 05 năm, tối thiểu 03 năm và được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn 03 năm;

Trường hợp tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy phép với thời hạn ngắn hơn thời hạn tối thiểu quy định tại a, b và c ở trên thì giấy phép được cấp theo thời hạn đề nghị trong văn bản đề nghị cấp phép và được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn tối đa không quá thời hạn giấy phép đã được cấp, gia hạn liền trước đó.

Nghị định quy định Giấy phép thăm dò nước dưới đất có thời hạn 02 năm và được xem xét gia hạn một lần, thời gian gia hạn không quá 01 năm. Trường hợp tổ chức, cá nhân đề nghị cấp, gia hạn giấy phép với thời hạn ngắn hơn thì giấy phép được cấp, gia hạn theo thời hạn đề nghị trong văn bản đề nghị cấp phép.

Việc gia hạn giấy phép thăm dò nước dưới đất, giấy phép khai thác tài nguyên nước phải căn cứ vào: Hồ sơ đề nghị gia hạn giấy phép phải nộp trước thời điểm giấy phép hết hiệu lực ít nhất 45 ngày; Đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị gia hạn, tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép đã hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định của pháp luật và không có tranh chấp.

Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân có nhu cầu tiếp tục khai thác tài nguyên nước nhưng không nộp hồ sơ đề nghị gia hạn đúng thời gian quy định ở trên thì tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nước phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép mới.

Nghị định 23/2026/NĐ-CP là bước điều chỉnh cần thiết trong công tác hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên nước theo tinh thần của Luật Tài nguyên nước 2023. Đối với ngành Cấp Thoát nước, Nghị định đặt ra các yêu cầu tuân thủ pháp lý, đặc biệt trong lập quy hoạch, xin cấp phép và thực hiện nghĩa vụ tài chính về tài nguyên nước, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho việc bảo vệ nguồn nước cấp, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh khai thác ngày càng gia tăng.

Vy Anh

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

VWSA - Tiếng nói chuyên môn trong xây dựng và hoàn thiện chính sách ngành Cấp Thoát nước

VWSA - Tiếng nói chuyên môn trong xây dựng và hoàn thiện chính sách ngành Cấp Thoát nước

Trong tiến trình hoàn thiện thể chế cho ngành Nước Việt Nam, thực tế chứng minh, chính sách chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được xây dựng trên nền tảng thực tiễn vận hành.

Chính sách 05/06/2026
Chuyển ngay tư duy "chống ngập bị động" sang "quản trị nước đô thị chủ động"

Chuyển ngay tư duy "chống ngập bị động" sang "quản trị nước đô thị chủ động"

Đó là chỉ đạo quyết liệt của UBND Thành phố Hà Nội nhằm mục tiêu xử lý dứt điểm các điểm úng ngập kéo dài, xây dựng hệ thống thoát nước đồng bộ, hiện đại và thích ứng biến đổi khí hậu (BĐKH).

VWSA lưu ý hội viên về quy định xử phạt liên quan chất lượng nước sạch sinh hoạt

VWSA lưu ý hội viên về quy định xử phạt liên quan chất lượng nước sạch sinh hoạt

Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA) thông tin tới các đơn vị hội viên một số nội dung liên quan lĩnh vực cấp nước sinh hoạt trong Nghị định số 90/2026/NĐ-CP của Chính phủ, trong đó có quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt.

Chính sách 11/05/2026
Hà Nội phê duyệt kế hoạch thoát nước, chống ngập nội thành năm 2026

Hà Nội phê duyệt kế hoạch thoát nước, chống ngập nội thành năm 2026

UBND TP. Hà Nội phê duyệt Kế hoạch bảo đảm thoát nước và chống úng ngập khu vực nội thành năm 2026, đặt mục tiêu khai thác tối đa hệ thống thoát nước hiện có, xử lý các điểm ngập phát sinh trong năm 2025 và chủ động vận hành các công trình đầu mối khi mưa lớn.

Chính sách 06/05/2026
Đưa bình đẳng giới vào chương trình giám sát tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá XVI

Đưa bình đẳng giới vào chương trình giám sát tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá XVI

Quốc hội vừa thông qua Nghị quyết về Chương trình giám sát năm 2027 với nhiều nội dung quan trọng. Trong đó có việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2026.

Tăng trưởng xanh: Động lực mới cho doanh nghiệp ngành Nước

Tăng trưởng xanh: Động lực mới cho doanh nghiệp ngành Nước

Trong bối cảnh các yêu cầu về môi trường, phát thải carbon ngày càng khắt khe, tăng trưởng xanh đang chuyển từ xu hướng sang điều kiện bắt buộc. Với ngành Nước – một trong những lĩnh vực chịu tác động lớn nhất từ biến đổi khí hậu, áp lực chuyển đổi xanh không chỉ đến từ bên ngoài mà còn xuất phát từ nhu cầu tự thân.

Diễn đàn 24/04/2026
Tiếp đà xây dựng kế hoạch hành động về bình đẳng giới tại ngành Nước Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Tiếp đà xây dựng kế hoạch hành động về bình đẳng giới tại ngành Nước Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bình đẳng giới trong ngành Nước tại Việt Nam đang ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, những khoảng trống về nhận thức, công cụ triển khai hay sự liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng Kế hoạch hành động giai đoạn 2026 - 2030 với mục tiêu, lộ trình cụ thể.

TS.Trần Anh Tuấn: "Cần thiết lập bản đồ cao độ nền để chống úng ngập tại Hà Nội"

TS.Trần Anh Tuấn: "Cần thiết lập bản đồ cao độ nền để chống úng ngập tại Hà Nội"

Góp ý với Trung tâm Quản lý hạ tầng kỹ thuật, Sở Xây dựng Hà Nội về "Đề án xử lý úng ngập khu vực nội thành giai đoạn 2026- 2030", TS.Trần Anh Tuấn - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA) cho rằng thành phố cần xác định mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn.

Diễn đàn 27/03/2026
Đề xuất cần 20.000 tỷ cho đề án giải quyết úng ngập tại Hà Nội

Đề xuất cần 20.000 tỷ cho đề án giải quyết úng ngập tại Hà Nội

Sáng 25/3/2026, tại Trung tâm Quản lý hạ tầng kỹ thuật thành phố Hà Nội đã diễn ra buổi hội thảo góp ý Đề án xử lý úng ngập tại khu vực nội thành Hà Nội. Tại hội thảo, các chuyên gia đã đưa ra nhiều nhận định đa chiều và có những đề xuất thiết thực nhằm thực hiện đề án hiệu quả.

Chính sách 25/03/2026
Top