Khảo cứu kinh nghiệm quản lý ngành Cấp Thoát nước từ các quốc gia phát triển

29/07/2025 15:30

Trước áp lực đô thị hóa, biến đổi khí hậu và nhu cầu sử dụng nước sạch ngày càng tăng, việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý và chính sách hiệu quả là vô cùng cấp thiết. Các quốc gia phát triển đã tiên phong trong việc thiết lập các mô hình quản lý, cung cấp những bài học quý cho các nền kinh tế đang phát triển.

Cn khung pháp lý riêng cho ngành Cấp Thoát nước

Ngành Cấp Thoát nước được coi là ngành độc quyền tự nhiên do chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng lớn và tính thiết yếu của dịch vụ. Do đó, một khuôn khổ pháp lý vững chắc là cần thiết để bảo vệ người tiêu dùng, đảm bảo chất lượng dịch vụ, giá cả hợp lý và tiếp cận công bằng; Đồng thời thu hút đầu tư và tạo môi trường ổn định, minh bạch cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước; Bảo vệ môi trường thông qua các quy định chặt chẽ về xử lý nước thải - quản lý tài nguyên nước,...

Đến nay, khu vực đô thị trên cả nước có hơn 250 doanh nghiệp cấp nước, đang vận hành khoảng 750 nhà máy nước và mạng đường ống cấp nước bao phủ khu vực đô thị, khu dân cư nông thôn lân cận; tổng công suất các nhà máy nước khoảng 12,6 triệu m3/ngày đêm. Tỷ lệ dân cư đô thị được cung cấp nước sạch 94,2%; tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch 16,5%.

Chính Sách Pháp Luật Ngành Cấp Thoát Nước: Kinh Nghiệm Từ Các Quốc Gia Phát Triển - Ảnh 1.

Hiện nay chưa có Luật chuyên ngành dành cho ngành Cấp Thoát nước

Đối với khu vực nông thôn, đã có hàng ngàn doanh nghiệp tư nhân tham gia đầu tư, vận hành công trình cấp nước. Tổng số công trình cấp nước tập trung khoảng 16.573 công trình, tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt khoảng 88,5%, trong đó 51% đạt QCVN 01:2009/BYT (áp dụng cho các trạm cấp nước có công suất > 1000 m3/ngđ), với khoảng 44% người dân nông thôn (28,5% triệu người) được cấp nước từ công trình cấp nước tập trung; tỷ lệ mẫu nước của các trạm cấp nước có công suất < 1000 m3/ngđ đạt QCVN 02:2009/BYT năm 2018 là 61,6%.

Việc thực hiện đảm bảo cấp nước an toàn đang có nhiều quy định chồng chất lên nhau như: Về quy hoạch cấp nước không được lập riêng (trừ thành phố trực thuộc trung ương) từ đó tính khả thi khi lập dự án, cơ sở triển khai dự án không cao; không có quy định về đảm bảo an ninh, an toàn cho công trình cấp nước dẫn đến nhiều sự cố. Việc đầu tư xây dựng chịu nhiều tác động của chuyên ngành hạ tầng khác (đường bộ, điện lực, viễn thông,...).

Trong quá trình đầu tư mạng đường ống cấp nước, đơn vị cấp nước phải cam đoan tự chịu trách nhiệm di dời hay sửa chữa đường ống nước khi đầu tư, cải tạo hoặc mở rộng các tuyến giao thông kể cả trường hợp không có trong quy hoạch giao thông.

Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, các công trình hạ tầng dọc theo các tuyến giao thông phải tự di dời toàn bộ tuyến ống, không đòi hỏi bồi hoàn khi ngành đường bộ có nhu cầu di dời. Đây cũng là vấn đề bất cập, khó khăn cho cho các đơn vị cấp nước trong bảo đảm hiệu quả đầu tư và quá trình vận hành hệ thống mạng lưới đường ống cấp nước khi phải bắt buộc di dời tuyến ống.

Quy định về thỏa thuận dịch vụ cấp nước theo Nghị định 117/2007/NĐ-CP hầu như chưa được thực hiện, chưa gắn được trách nhiệm của UBND các cấp để bảo vệ quyền lợi của người dân trong lĩnh vực cấp nước, cũng như quyền được huy động, sử dụng công trình cấp nước khi xảy ra những sự cố nghiêm trọng.

Doanh nghiệp cấp nước hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nên xuất hiện những bất cập trong quá trình xã hội hóa lĩnh vực cấp nước, mâu thuẫn giữa lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của cộng đồng, doanh nghiệp quan tâm nhiều về lợi nhuận, thiếu quan tâm chất lượng dịch vụ cấp nước cũng như quyền được sử dụng dịch vụ cấp nước của người dân.

Ngoài ra, lợi nhuận và hiệu quả đầu tư đã và đang hạn chế trách nhiệm của doanh nghiệp trong công tác đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của người dân và bảo đảm cấp nước an toàn. Cấp nước sạch cho người dân là vấn đề an sinh xã hội, các hoạt động này cần có sự kiểm soát của nhà nước, tuy nhiên hiện nay việc các công ty cổ phần tự do kinh doanh, chuyển nhượng, mua bán cổ phần đang diễn ra phổ biến thiếu sự kiểm soát của nhà nước. Vì vậy cần một khung pháp lý riêng mang tính chuyên ngành để quản lý, điều chỉnh ngành Cấp Thoát nước phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Một số kinh nghiệm từ các nước phát triển

Các quốc gia phát triển đã áp dụng nhiều mô hình khác nhau để điều tiết ngành Cấp Thoát nước, chủ yếu dựa trên cấu trúc sở hữu (công, tư hoặc hỗn hợp) và cơ chế quản lý. Vương quốc Anh (Anh và Wales) là ví dụ điển hình về việc tư nhân hóa toàn bộ ngành cấp nước vào năm 1989. Mô hình này dựa trên việc tách biệt hoàn toàn giữa việc cung cấp dịch vụ và chức năng điều tiết. Mô hình này đã thành công trong việc thu hút nguồn vốn tư nhân khổng lồ để cải tạo cơ sở hạ tầng cũ kỹ.

Bên cạnh tính tích cực và những lợi ích mang lại, mô hình cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, thách thức, cần sự minh bạch cao trong việc xác định lợi nhuận và chi phí, tránh để các công ty tư nhân tối đa hóa lợi nhuận mà không cải thiện chất lượng dịch vụ hoặc tăng giá quá mức.

Ngành Cấp Thoát nước chủ yếu vẫn thuộc sở hữu công hoặc được quản lý bởi các chính quyền địa phương và thành phố theo hình thức sở hữu công và quản lý địa phương phổ biến ở Đức và phần lớn Hoa Kỳ. Cơ sở hạ tầng nước được phân cấp mạnh mẽ, quản lý bởi các công ty cấp nước thuộc sở hữu của thành phố (Stadtwerke Đức), hoặc hầu hết các dịch vụ được cung cấp bởi các công ty cấp nước công cộng (public utilities Hoa Kỳ).

Mặc dù có các công ty tư nhân, vai trò của các đơn vị công vẫn chiếm ưu thế. Ưu điểm của mô hình là kiểm soát mạnh mẽ của chính quyền địa phương, đặt lợi ích cộng đồng lên hàng đầu, dễ dàng tiếp cận vốn vay với lãi suất thấp. Nhưng nó cũng bộc lộ yếu kém là ít tạo ra động lực cạnh tranh, có thể kém hiệu quả hơn trong việc đổi mới công nghệ hoặc tối ưu hóa chi phí.

Ngoài ra, mô hình Hợp đồng đối tác công - tư (PPP) và Nhượng quyền cũng là một trong những cách thức. Pháp có một lịch sử lâu đời về các mô hình nhượng quyền (concession) và hợp đồng quản lý, nơi các công ty tư nhân lớn (như Veolia, Suez) vận hành cơ sở hạ tầng thuộc sở hữu công. Chính quyền địa phương vẫn sở hữu tài sản, nhưng giao việc vận hành cho tư nhân thông qua các hợp đồng dài hạn. Ưu điểm của mô hình là kết hợp được năng lực quản lý và công nghệ của khu vực tư nhân với sự kiểm soát của chính quyền. Việc đàm phán và giám sát hợp đồng rất phức tạp, đòi hỏi năng lực quản lý hợp đồng cao từ phía chính quyền.

Chính Sách Pháp Luật Ngành Cấp Thoát Nước: Kinh Nghiệm Từ Các Quốc Gia Phát Triển - Ảnh 2.

Đại biểu Quốc hội Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Công nghệ của Quốc Hội khảo sát tình hình thực thi pháp luật ngành Cấp Thoát nước tại Bình Dương (cũ)

Với mô hình Quản lý nước tích hợp và đổi mới, Singapore là một trường hợp đặc biệt, nổi bật với chiến lược quản lý nước tích hợp và đổi mới công nghệ (Four National Taps). Chính sách pháp luật của Singapore tập trung vào việc quản lý vòng đời nước một cách toàn diện (từ khai thác, xử lý, tái sử dụng đến khử muối). Cơ quan Quản lý nước Quốc gia (PUB) hoạt động như một thực thể độc lập nhưng chịu sự giám sát chặt chẽ. Thể hiện tầm nhìn dài hạn, đầu tư mạnh vào công nghệ (NEWater - nước tái sử dụng), hiệu quả cao và quản lý rủi ro chặt chẽ.

Thực tế ứng dụng

Việt Nam là một trong những quốc gia đã có những nỗ lực rất đáng ghi nhận trong thực hiện bảo đảm cấp nước an toàn đánh dấu bằng việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình Quốc gia bảo đảm cấp nước an toàn trong thời gian vừa qua. Trên thực tế hiện nay, những quy định bắt buộc về thực hiện quản lý rủi ro là công cụ để nhà nước hạn chế tác động không tốt của tính độc quyền tự nhiên trong lĩnh vực cung cấp nước sạch, mặt khác khi thực hiện tốt quản lý rủi ro những lợi ích của công ty cấp nước cũng sẽ được nhà nước khuyến khích.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không có một mô hình chính sách pháp luật duy nhất nào phù hợp với mọi quốc gia. Tuy nhiên, các bài học quan trọng có thể được rút ra: Dù ngành cấp nước thuộc sở hữu công hay tư, một cơ quan điều tiết độc lập, minh bạch và có năng lực là rất cần thiết để đảm bảo hiệu quả và quyền lợi người tiêu dùng. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa quản lý cấp nước và quản lý thoát nước/nước thải, cũng như giữa các cơ quan quản lý tài nguyên và dịch vụ. Đầu tư vào các giải pháp bền vững (như tái sử dụng nước, giảm thất thoát) và áp dụng công nghệ mới là yếu tố quyết định cho sự phát triển dài hạn của Ngành.

Việc xây dựng một khung pháp lý ngành Cấp Thoát nước hiệu quả cần dựa trên sự hiểu biết sâu sắc về bối cảnh kinh tế - xã hội, đồng thời tham khảo các kinh nghiệm thành công trên thế giới để tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn và một ngành dịch vụ chất lượng, bền vững.

Duy Chí

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Đồng Nai nâng chuẩn tiếp cận nước sạch giai đoạn 2025 - 2030

Đồng Nai nâng chuẩn tiếp cận nước sạch giai đoạn 2025 - 2030

Đặt mục tiêu đến năm 2030, 92% dân số đô thị được cấp nước sạch tập trung và 85% dân số nông thôn sử dụng nước đạt quy chuẩn, Đồng Nai đang đứng trước yêu cầu tái tổ chức lại hệ thống cấp nước theo hướng đồng bộ, ưu tiên nguồn nước mặt và thu hẹp khoảng cách giữa các khu vực.

Lời giải kỹ thuật cho bài toán vận hành hệ thống cấp nước Quảng Ninh

Lời giải kỹ thuật cho bài toán vận hành hệ thống cấp nước Quảng Ninh

Việc ứng dụng phối hợp các giải pháp hệ thống giám sát và thu thập giữ liệu (SCADA) - thông tin địa lý (GIS) - phân vùng (DMA) chính là lời giải kỹ thuật cho bài toán vận hành hệ thống cấp nước Quảng Ninh, giúp công tác quản lý chuyển từ phản ứng khi có sự cố sang chủ động giám sát - kiểm soát - tối ưu.

Khi dữ liệu trở thành điều kiện sống còn của ngành cấp nước

Khi dữ liệu trở thành điều kiện sống còn của ngành cấp nước

Trong bối cảnh áp lực tài chính gia tăng và yêu cầu minh bạch ngày càng cao, ngành cấp nước Việt Nam đang đứng trước đòi hỏi phải chuẩn hóa dữ liệu vận hành. NewIBNET không chỉ là công cụ so sánh quốc tế, mà đang trở thành nền tảng giúp doanh nghiệp nâng cao quản trị và củng cố năng lực tiếp cận nguồn vốn.

Xử lý dứt điểm ô nhiễm hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, tái lập chức năng đa mục tiêu

Xử lý dứt điểm ô nhiễm hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, tái lập chức năng đa mục tiêu

Trong phiên họp chiều 26/2/2026, Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh, sau 4 năm nghiên cứu kỹ lưỡng, đánh giá toàn diện, không thể tiếp tục để tình trạng ô nhiễm kéo dài như hiện nay.

Từ giảng đường đến dây chuyền sản xuất

Từ giảng đường đến dây chuyền sản xuất

Khi giảng đường gắn liền nhà máy, bài toán nguồn nhân lực cho ngành Nước không còn là khoảng trống giữa lý thuyết và thực tiễn.

Hà Nội điều chỉnh, bổ sung danh mục công trình thoát nước do Thành phố quản lý

Hà Nội điều chỉnh, bổ sung danh mục công trình thoát nước do Thành phố quản lý

Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố Hà Nội Dương Đức Tuấn vừa ký ban hành Quyết định số 816/QĐ-UBND ngày 23/02/2026 về việc điều chỉnh, bổ sung Danh mục đường, hè, cây xanh, chiếu sáng, thoát nước do Thành phố quản lý theo Quyết định số 5904/QĐ-UBND ngày 26/11/2025 của UBND Thành phố Hà Nội.

Rà soát quy định quản lý tài sản cấp nước sạch: Nhìn từ kiến nghị của cử tri Sơn La

Rà soát quy định quản lý tài sản cấp nước sạch: Nhìn từ kiến nghị của cử tri Sơn La

Việc rà soát quy định giao tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch theo kiến nghị của cử tri Sơn La đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế trong ngành Nước.

Chính sách 25/02/2026
Tăng cường kiểm tra an ninh kinh tế năm 2026: Doanh nghiệp ngành Nước cần lưu ý gì?

Tăng cường kiểm tra an ninh kinh tế năm 2026: Doanh nghiệp ngành Nước cần lưu ý gì?

Theo Kế hoạch số 12/KH-BCA, hoạt động kiểm tra việc chấp hành pháp luật đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh sẽ được triển khai trong năm 2026. Vì vậy, các doanh nghiệp ngành Nước thuộc lĩnh vực hạ tầng thiết yếu cần chủ động rà soát, nhằm duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh ổn định trong quá trình kiểm tra.

Bình đẳng giới trong doanh nghiệp ngành Nước Việt Nam: Từ nhận thức đến thể chế hóa hành động

Bình đẳng giới trong doanh nghiệp ngành Nước Việt Nam: Từ nhận thức đến thể chế hóa hành động

Trong bối cảnh phát triển bền vững và đổi mới quản trị doanh nghiệp, bình đẳng giới ngày càng được nhìn nhận như một thành tố quan trọng của chất lượng quản trị, thay vì chỉ là một yêu cầu xã hội hay pháp lý.

Văn hóa nước 23/02/2026
Top