Nước là yếu tố cốt lõi trong phát triển ĐBSCL

28/09/2017 00:00

Sáng 27/9, tại TP.Cần Thơ, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, cùng các Phó Thủ tướng: Vương Đình Huệ, Trịnh Đình Dũng đã chủ trì phiên toàn thể Hội nghị về phát triển bền vững ĐBSCL, thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH).

► Cộng đồng quốc tế luôn hợp tác chặt chẽ với Việt Nam vì sự phát triển của ĐBSCL

Sáng 27/9, tại TP.Cần Thơ, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, cùng các Phó Thủ tướng: Vương Đình Huệ, Trịnh Đình Dũng đã chủ trì phiên toàn thể Hội nghị về phát triển bền vững ĐBSCL, thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH).

Tham dự Hội nghị có Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Thiện Nhân, lãnh đạo các Ban, Bộ, Ngành Trung ương và lãnh đạo các tỉnh ĐBSCL. Hội nghị đã thu hút hàng trăm nhà khoa học trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế, các đoàn ngoại giao.

Trình bày tại phiên họp toàn thể Hội nghị về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng BĐKH sáng 27/9, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà nhấn mạnh:  “Tài nguyên nước là yếu tố cốt lõi, trung tâm, làm cơ sở xuyên suốt cho việc hoạch định chiến lược, chính sách, quy hoạch phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long”.

Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết: trong ngày hôm qua 27/9, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì Phiên họp chuyên đề, thảo luận “Tổng quan về thách thức, cơ hội và giải pháp chuyển đổi mô hình phát triển cho ĐBSCL”.
 
Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà trình bày tại phiên họp

Để có cơ sở cho Thủ tướng Chính phủ xem xét, chỉ đạo những định hướng lớn phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, sau đây, tôi xin báo cáo Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng và toàn thể Hội nghị các kết quả tổng hợp trên cơ sở các báo cáo tham luận và thảo luận tại Hội nghị với chủ đề “Đồng bằng sông Cửu Long - Chuyển hoá thách thức thành cơ hội”.

Hội nghị đã tập trung, phân tích đánh giá một cách tổng thể, toàn diện về các nội dung chính như: ĐBSCL - vùng đất độc đáo nhiều thuận lợi, lắm khó khăn; Thực trạng và thách thức; Các cơ hội của ĐBSCL.

3 nhóm thách thức lớn của ĐBSCL

Theo Bộ trưởng Trần Hồng Hà, ĐBSCL đang chịu 3 nhóm thách thức lớn:

Đó là diện tích đất rừng bị suy giảm trong đó diện tích đất rừng ngập mặn trong 50 năm qua đã giảm 80%; việc gia tăng thời vụ và sản xuất nông nghiệp quá sức phục hồi của đất.

Quy hoạch, đầu tư phát triển chưa đồng bộ, thiếu liên kết trong khi Đồng bằng sông Cửu Long là một thể thống nhất, có gắn kết chặt chẽ với vùng thành phố Hồ Chí Minh và tiểu vùng Mê Công.

Khai thác quá mức nước ngầm làm mặt đất sụt lún cùng với nước biển dân làm tăng nguy cơ ngập lụt. Phát triển, bố trí các khu dân cư chưa hợp lý cùng với khai thác bùn, cát và thiếu hụt lượng phù sa, bùn cát bổ sung dẫn đến sạt lở; Hệ sinh thái mất cân bằng, môi trường ô nhiễm, đa dạng sinh học suy giảm; Quản lý nhà nước thừa chồng chéo nhưng thiếu phối hợp; thiếu các cơ chế và quy hoạch tiếp cận theo vùng.

Bên cạnh đó, nhu cầu khai thác, sử dụng nước ở thượng nguồn gia tăng mạnh, làm giảm dòng chảy mùa kiệt, giảm lượng phù sa; Lũ nhỏ cùng với triều cường nước biển dâng làm xâm nhập mặn sâu hơn vào nội vùng; Suy giảm nguồn lợi thuỷ sản, tác động tiêu cực đến thuỷ sinh và đa dạng sinh học của vùng… cũng thách thức đối với khu vực này

Người đứng đầu ngành TN&MT cũng đề cập đến nhóm thách thức mang tính toàn cầu do biến đổi khí hậu như: Nước biển dâng, hạn hán gia tăng về trong khi khả năng chống chịu của đồng bằng còn thấp; Rủi ro do thiên tai, các hiện tượng khí hậu cực đoan (mưa, bão, giông tố, lốc xoáy...) ngày càng khó lường...

Nhiều cơ hội phát triển

Bộ trưởng Trần Hồng Hà phân tích: Từ vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: đồng bằng lớn nhất, độ phì nhiêu cao, đa dạng về các vùng đất ngập nước, đa dạng sinh học cao, trữ lượng tài nguyên nước ngọt và rừng ngập mặn, có tiềm năng sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp lớn nhất Việt Nam; kết nối tốt với Thành phố Hồ Chí Minh, các nước Đông Nam Á.

Từ văn hoá, xã hội: Vùng có văn minh sông nước trưng; người dân có truyền thống bền gan, sáng tạo, kinh nghiệm và kiến thức bản địa phong phú; Vùng Đồng bằng sông Cửu Long luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước trong phát triển sự hợp tác hỗ trợ của các các quốc gia, tổ chức quốc tế...

ĐBSCL cũng có thuận lợi từ chính các thách thức: tăng giá trị kinh tế, đảm bảo sinh kế người dân thông qua cơ hội phát triển các dịch vụ từ hệ sinh thái mặn lợ trong bối cảnh giảm tài nguyên nước ngọt, hệ sinh thái nước ngọt;  thúc đẩy phát triển đa dạng sinh học ven biển, mặn lợ, rừng ngập mặn...

Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu cũng thúc đẩy thay đổi tư duy nhận thức, chuyển đổi mô hình phát triển mới dựa trên khai thác cạn kiệt tài nguyên sang mô hình thân thiện với tự nhiên, bền vững, chống chịu cao; thúc đẩy hợp tác, tranh thủ hỗ trợ nguồn lực tài chính, chuyển giao công nghệ...
 
Phát triển ĐBSCL bền vững, an toàn, thịnh vượng

Về tầm nhìn và quan điểm chỉ đạo, theo Bộ trưởng Trần Hồng Hà, ĐBSCL phát triển bền vững, an toàn, thịnh vượng, trên cơ sở phát phù hợp nông nghiệp hàng hoá lớn chất lượng cao, kết hợp với dịch vụ, du lịch sinh thái, công nghiệp; có cơ sở hạ tầng được quy hoạch, phát triển theo hướng chủ động, thông minh với nước, thích ứng biển đổi khí hậu, đời sống vật chất tinh thần của người dân được nâng cao.

Đến năm 2050, ĐBSCL trở thành vùng có trình độ phát triển khá so với cả nước, có trình độ tổ chức xã hội tiên tiến; độ che phủ rừng đạt trên 5% (so với 4.3% hiện nay), các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng được bảo tồn.

Mạng lưới kết cấu hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại. Hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy được phát triển đồng bộ, kết nối trong vùng, liên vùng. Hạ tầng thông tin và truyền thông, mạng lưới cấp điện, cấp nước, thoát nước được xây dựng đồng bộ. Hệ thống các cơ sở văn hoá, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế và thể dục - thể thao ở mức cao so với cả nước; kinh tế phát triển năng động và hiệu quả với cơ cấu kinh tế phù hợp và năng động.

Hệ thống đô thị hiện đại được xây dựng và phân bố hợp lý tại các tiểu vùng; Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao; cộng đồng gắn kết hài hoà và thân thiện, an ninh chínhtrị giữ vững, quốc phòng được đảm bảo…

Cần thay đổi nhận thức vùng ĐBSCL như một thể thống nhất

Bộ trưởng Trần Hồng Hà đề xuất về quan điểm chỉ đạo đối với khu vực ĐBSCL. Cụ thể: Một là, cần thay đổi nhận thức vùng Đồng bằng sông Cửu Long như một thể thống nhất; quá trình chuyển đổi mô hình phát triển phải được xem xét trong tổng thể chung của Đồng bằng, trong mối liên kết chặt chẽ với vùng Thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trong Tiểu vùng sông Mê Công.

Hai là, phải lấy tài nguyên nước là yếu tố cốt lõi, trung tâm, làm cơ sở xuyên suốt cho việc hoạch định chiến lược, chính sách, quy hoạch phát triển vùng. Tài nguyên nước phải được quản lý tổng hợp trên toàn lưu vực và theo lưu vực. Coi nước lợ và nước mặn là nguồn tài nguyên, bên cạnh nguồn tài nguyên nước ngọt.

Ba là, chuyển đổi mô hình phải dựa trên hệ sinh thái, phù hợp với quy luật tự nhiên; phải kết hợp giữa công nghệ tiên tiến, hiện đại với tri thức, kinh nghiệm truyền thống bản địa.

Bốn là, quá trình chuyển đổi cần có tầm nhìn dài hạn, ưu tiên cho thích ứng với biến đổi khí hậu nhưng cũng phải tận dụng các cơ hội để phát triển kinh tế các-bon thấp, kinh tế xanh, bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên.

Năm là, chuyển đổi mô hình phải đảm bảo tính ổn định, sinh kế của người dân, người dân và doanh nghiệp đóng trung tâm, Nhà nước đóng vai trò định hướng, dẫn dắt.
 

Toàn cảnh Hội nghị
 

MỘT SỐ NHIỆM VỤ & GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC VỚI ĐBSCL

Thứ nhất, rà soát và hoàn thiện đồng bộ, chính sách , chiến lược, quy hoạch

- Thống nhất với đề xuất quy hoạch phân vùng theo 3 vùng sinh thái cùng với các dự án ưu tiên không hối tiếc cho 3 vùng như đề xuất trong Kế hoạch Đồng bằng sông Cửu Long.

- Xây dựng quy hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực của Đồng bằng sông Cửu Long.

- Xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai đồng bộ; quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội vùng và các quy hoạch ngành, lĩnh vực: du lịch, giao thông, xây dựng, năng lượng phù hợp với quy hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên nước.

- Xây dựng mô hình kinh tế phù hợp với tự nhiên, chủ động sống chung với mặn, hạn như từng sống chung với lũ; tạo chuỗi giá trị khép kín, chủ động từ khâu sản xuất giống, bảo quản chế biến và phân phối. Thay đổi tư duy về an ninh lương thực, tập trung sản xuất lúa gạo.

- Bảo tồn và phát triển các giá trị cốt lõi của ĐBSCL, tạo nền tảng phát triển dịch vụ du lịch sinh thái, du lịch sông nước dựa trên thế mạnh từng tiểu vùng cùng với thích ứng và chủ động sống chung với kinh tế nước mặn, nước lợ.

- Phát triển hạ tầng, khu dân cư vùng ngập lũ trên cơ sở tính toán để hạn chế sử dụng cát để san lấp mặt bằng, tạo các hồ chứa lũ theo phương châm chủ động sống chung với lũ; bảo tồn các vùng đất ngập nước để giữ nước.

Thứ hai, đánh giá đầy đủ các tác động đến xã hội, sinh kế người dân, chuẩn bị tốt các điều kiện trong quá trình chuyển đổi.

- Hỗ trợ chuyển giao khoa học công nghệ, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực để người dân tham gia một cách tích cực, chủ động, với vai trò là trung tâm của quá trình chuyển đổi.

- Quan tâm đầu tư hệ thống y tế, giáo dục để sự ổn định và sinh kế của người dân, coi đây là yêu cầu đảm bảo tính bền vững của quá trình chuyển đổi.

Thứ ba, đẩy mạnh bảo vệ môi trường, hệ sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, giảm phát thải khí nhà kính.

- Quy hoạch và đầu tư các khu xử lý chất thải, nước thải tập trung, hiện đại; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và sản xuất năng lượng từ rác.

- Rà soát lại quy hoạch phát triển điện lực 2011 - 2021, xem xét chuyển đổi công nghệ đối với các nhà máy nhiệt điện than; phát triển năng lượng tái tạo; chuyển đổi công nghệ để tiết kiêm năng lượng.

- Xây dựng ngành nông nghiệp hữu cơ, phát thải các-bon thấp.

Thứ tư, cơ chế huy động nguồn lực cho quá trình chuyển đổi

- Xây dựng cơ chế huy động nguồn lực, khuyến khích sự tham gia đầu tư của các doanh nghiệp, người dân vào phát triển hạ tầng, kết hợp phát triển du lịch như: cơ chế vay vốn, phát hành trái phiếu, xây dựng chuyển giao (BT), xây dựng vận hành và chuyển giao (BOT)... 

- Ưu tiên nguồn vốn cho các công trình có tính kết nối liên vùng, liên tỉnh; phục vụ đa mục tiêu, kết hợp giao thông, thuỷ lợi thông minh nguồn nước, hạn chế tác động bất lợi do biến đổi khí hậu, các thiên tai liên quan đến nước.

- Xem xét, thành lập Quỹ phát triển ĐBSCL để đa dạng hoá nguồn lực cho bảo đảm an ninh tài nguyên nước.

Thứ năm, nghiên cứu khoa học công nghệ

- Nghiên cứu xây dựng đề án với tầm nhìn dài hạn giảm nhẹ các tổn thương tác động từ phía biển, kết hợp đồng bộ giữa giao thông, thuỷ lợi, các kết cấu hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu, đề xuất các giải pháp công trình cứng (xây đê bao…) và các giải pháp mềm (trồng rừng ngập mặn…).

- Triển khai chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ, trong đó tập trung nghiên cứu, đánh giá, nhận diện và lượng giá đầy đủ tài nguyên thiên nhiên của ĐBSCL.

- Xây dựng các giải pháp khoa học, kỹ thuật phục vụ phát triển bền vững ĐBSCL.

Thứ sáu, tăng cường năng lực quan trắc, giám sát, cảnh báo, dự báo và hoàn thiện, khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu tích hợp về ĐBSCL.

- Đầu tư nâng cấp và hiện đại hoá hệ thống quan trắc, giám sát, cảnh báo và dự báo về tài nguyên và môi trường bao gồm: môi trường, biển đảo, tài nguyên nước, khí tượng thuỷ văn, biến đổi khí hậu, sụt lún, xói lở, bồi đắp vùng đồng bằng sông Cửu Long.

- Xây dựng, hoàn thiện, tích hợp hệ thống cơ sở dữ liệu liên ngành và thành lập Trung tâm dữ liệu vùng đồng bằng sông Cửu Long, kết nối với cơ sở dữ liệu của Uỷ hội sông Mê Công quốc tế; khai thác, sử dụng có hiệu quả phục vụ đa mục tiêu, chia sẻ và tổ chức công bố cho cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.

Thứ bẩy, đẩy mạnh hợp tác quốc tế

- Xây dựng cơ chế hợp tác với các quốc gia và tổ chức quốc tế, đặc biệt là Cao uỷ Đồng bằng Hà Lan, tăng cường kết nối, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm với các đối tác quốc tế về phát triển bền vững đồng bằng.

- Tranh thủ sự hỗ trợ về công nghệ, kỹ thuật của các nước phát triển cho phát triển vùng đồng bằng thích ứng với biến đổi khí hậu.

- Cùng các quốc gia trong lưu vực có cơ chế, cơ sở pháp lý trong chia sẻ lợi ích, bảo tồn giá trị cốt lõi của sông Mê Công.

- Tăng cường đàm phán, kêu gọi sự hợp tác của các quốc gia và các tổ chức quốc tế, các nước trong Tiểu vùng sông Mê Công, Myanma và Trung Quốc hỗ trợ phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long.

- Thúc đẩy và điều phối các hoạt động trên phương diện ngoại giao nhà nước, ngoại giao nhân dân trong vận động các đối tác phát triển, các tổ chức quốc tế, vùng và cộng đồng có liên quan ủng hộ các giải pháp sử dụng hiệu quả và bền vững nguồn nước sông Mê Công.

- Đánh giá toàn diện và sửa đổi, bổ sung Hiệp định Mê Công 1995 theo hướng tăng cường hợp tác giữa các quốc gia trong lưu vực sông Mê Công, bảo đảm hài hoà lợi ích giữa các bên liên quan trong quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước sông Mê Công.

Thứ tám, hoàn thiện cơ chế điều phối phát triển vùng

Nghiên cứu cơ chế điều phối vùng hiệu quả huy động được sự tham gia của đại diện các Bộ, ngành và địa phương trong vùng, một số nhà khoa học để tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ về các quyết sách về phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Thứ chín, tăng cường công tác truyền thông để tăng cường nhận thức cho người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long về những cơ hội từ quá trình chuyển đổi mô hình nhằm phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tác giả bài viết: Việt Hùng
Nguồn tin: Monre.gov.vn
Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Doanh nghiệp cấp nước Bắc Trung Bộ: Chia sẻ giải pháp công nghệ, hướng tới vận hành bền vững

Doanh nghiệp cấp nước Bắc Trung Bộ: Chia sẻ giải pháp công nghệ, hướng tới vận hành bền vững

Ngày 8/8/2026, tại Hà Tĩnh, Hội thảo “Chia sẻ kinh nghiệm quản lý, ứng dụng công nghệ và các giải pháp phát triển bền vững trong ngành cấp nước” đã quy tụ đại diện nhiều doanh nghiệp cấp nước cùng các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực thiết bị, công nghệ và dịch vụ ngành nước.

Bộ Xây dựng: Thành lập Tổ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu cấp nước sạch, thoát nước đô thị

Bộ Xây dựng: Thành lập Tổ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu cấp nước sạch, thoát nước đô thị

Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng (Bộ Xây dựng) vừa thành lập Tổ công tác triển khai nhiệm vụ xây dựng Cơ sở dữ liệu cấp nước sạch, thoát nước đô thị. Tổ công tác có trách nhiệm điều phối các phần việc về nghiệp vụ, dữ liệu, đầu tư, lựa chọn nhà thầu và triển khai hệ thống.

Bộ Xây dựng tiếp tục bảo trợ Tuần lễ ngành Nước Việt Nam - Vietnam Water Week 2026

Bộ Xây dựng tiếp tục bảo trợ Tuần lễ ngành Nước Việt Nam - Vietnam Water Week 2026

Bộ Xây dựng vừa có văn bản trả lời số 12079/BXD-KCHT về việc tổ chức sự kiện Tuần lễ ngành Nước Việt Nam - Vietnam Water Week 2026.

Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam điều chỉnh giá bán từ ngày 1/7/2026

Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam điều chỉnh giá bán từ ngày 1/7/2026

Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam vừa ban hành Thông báo về việc điều chỉnh giá bán đối với ấn phẩm Tạp chí in, áp dụng từ ngày 1/7/2026. Việc điều chỉnh nhằm bảo đảm chất lượng nội dung, hình thức xuất bản và duy trì hoạt động của Tạp chí trong bối cảnh chi phí sản xuất, in ấn và phát hành ngày càng gia tăng.

Thông báo 29/07/2026
Dòng nước nghĩa tình nối dài hành trình tri ân từ Bắc vào Nam nhân ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7

Dòng nước nghĩa tình nối dài hành trình tri ân từ Bắc vào Nam nhân ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7

Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, các doanh nghiệp ngành Nước đã tổ chức nhiều hoạt động tri ân thiết thực. Từ miền Bắc, miền Trung đến miền Nam, những chuyến về nguồn, lễ dâng hương và thăm hỏi gia đình chính sách đã nối dài đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, thể hiện lòng biết ơn với các thế hệ đi trước.

CLB Lãnh đạo nữ ngành Nước Việt Nam: Nhìn lại chặng đường hai năm hoạt động

CLB Lãnh đạo nữ ngành Nước Việt Nam: Nhìn lại chặng đường hai năm hoạt động

Phiên họp lần thứ II năm 2026 của CLB Lãnh đạo nữ ngành Nước Việt Nam đã ghi dấu những kết quả nổi bật trong hành trình phát triển và tri ân các nữ cán bộ tiêu biểu.

Chi hội Cấp Thoát nước miền Trung - Tây Nguyên bước vào nhiệm kỳ xanh và số

Chi hội Cấp Thoát nước miền Trung - Tây Nguyên bước vào nhiệm kỳ xanh và số

Với 81 hội viên trên địa bàn rộng, thường xuyên chịu tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu, Chi hội Cấp thoát nước miền Trung - Tây Nguyên cần đổi mới phương thức hoạt động. Kết quả nhiệm kỳ 2024 - 2026 là nền tảng để hỗ trợ hội viên, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao năng lực thích ứng trong nhiệm kỳ mới.

Ngành nước miền Trung - Tây Nguyên tăng tốc chuyển đổi số, thích ứng biến đổi khí hậu

Ngành nước miền Trung - Tây Nguyên tăng tốc chuyển đổi số, thích ứng biến đổi khí hậu

Ngày 24/7, tại phường Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, Chi hội Cấp Thoát nước miền Trung - Tây Nguyên tổ chức Hội thảo chuyên đề “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành hệ thống cấp thoát nước khu vực miền Trung - Tây Nguyên thích ứng với biến đổi khí hậu và đô thị hóa”.

CLB Lãnh đạo nữ ngành Nước Việt Nam trao quà cho bệnh nhân tại Bệnh viện Ung bướu Khánh Hòa

CLB Lãnh đạo nữ ngành Nước Việt Nam trao quà cho bệnh nhân tại Bệnh viện Ung bướu Khánh Hòa

Trong khuôn khổ Phiên họp lần thứ II năm 2026, ngày 23/7, đại diện Câu lạc bộ (CLB) Lãnh đạo nữ ngành Nước Việt Nam phối hợp cùng CLB Lãnh đạo nữ miền Trung - Tây Nguyên đã đến thăm và trao quà cho các bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện Ung bướu Khánh Hòa.

Top