Nhiệt độ
Đánh giá tác động của Dịch COVID-19 đến hoạt động doanh nghiệp ngành nước
Sau 3 tháng kể từ thời điểm bùng phát dịch (Giai đoạn 1), dịch COVID-19 đã gây ảnh hưởng toàn diện đến kinh tế, xã hội các quốc gia trên thế giới và Việt Nam.
Các nhóm lĩnh vực/ngành chịu sự tác động phải kể đến là: Lĩnh vực nông nghiệp và phụ trợ, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, lĩnh vực tài chính, giao thông và bất động sản đặc biệt là lĩnh vực cung cấp dịch vụ….Ngành nước là ngành sản xuất và cung cấp các dịch vụ thiết yếu cũng chịu chung với sự tác động tiêu cực của dịch COVID này.
Hội Cấp thoát nước Việt Nam tiến hành khảo sát một số doanh nghiệp ngành nước (Cấp, thoát nước và vật tư thiết bị ngành nước) với các tiêu chí và chỉ tiêu bao gồm: (1) Tổng công suất/năng lực sản xuất; (2) Tổng mức tiêu thụ nước sạch (Khối cấp nước sinh hoạt, sản xuất và dịch vụ, các đơn vị hành chính sự nghiệp); (3) Doanh thu; (4) Thu nhập người lao động; (5) Thất nghiệp; (6) Quyền lợi người lao động; (7) Các giải pháp an toàn cho người lao động và phòng chống dịch của đơn vị. Qua kết quả khảo sát trên 20 doanh nghiệp ngành nước có quy mô sản xuất lớn cho thấy:
1. Hầu hết các doanh nghiệp đã thành lập Ban chỉ đạo phòng chống dịch COVID-19; Dựa trên các quy định của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống dịch, của WHO và khuyến cáo của Hội Cấp thoát nước Việt Nam, các Ban chỉ đạo của đơn vị đã tham mưu cho lãnh đạo doanh nghiệp ban hành các quy định nội bộ đó là: Yêu cầu cán bộ và người lao động thực hiện nghiêm túc việc đeo khẩu trang, rửa tay bằng nước kháng khuẩn, đo thân nhiệt, giữ khoảng cách tối thiểu 2m, bố trí linh hoạt giờ làm việc (online), khai báo y tế đặc biệt các công việc liên quan đến trực tiếp sản xuất hay thực hiện xử lý nước thải/ nạo vét mạng lưới thoát nước, quản lý, sửa chữa tại các vùng có dịch, trong các khu cách ly tập trung/khu phong tỏa…. đều phải trang bị bảo hộ lao động.
Kết quả đáng mừng, cho đến kết thúc giai đoạn 1 không có cán bộ, người lao động trong ngành bị nhiễm dịch COVID-19.
2. Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu
a) Tổng công suất sản xuất, cung cấp nước sạch: Hầu hết bị giảm so với lượng nước tiêu thụ trước khi có dịch. Tỷ lệ giảm trung bình khoảng 6-6,5% (có doanh nghiệp giảm 2% -2,5% như CP Nước Bà rịa Vũng tàu, CPCTN Cần Thơ 2; CP CTN Quảng Ngãi..; nhiều doanh nghiệp giảm 6-8% như CP NS Quảng Ninh, CPNS Vĩnh Phúc; CPCTN Lâm Đồng; CP NS Sông Đà, CP N và MT Bình Dương..)
b) Lượng nước tiêu thụ bình quân tăng ở khối sinh hoạt (cung cấp nước cho các hộ gia đình) trung bình khoảng 2-3% (có doanh nghiệp tăng cao đến 12% như ở SAWACO, Quảng Ngãi…) và giảm mạnh ở khu vực sản xuất và dịch vụ, hành chính sự nghiệp khoảng 10-15% (CP N và MT Bình dương: 16%; CN Bà rịa - Vũng tàu 20%; ..) Việc tăng tại khu vực sinh hoạt là hợp lý vì trong thời gian này phần lớn là các hoạt động đều diễn ra tại hộ gia đình; Việc giảm lượng nước vì nhiều doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ ngừng hoạt động đặc biệt tại các tỉnh/thành phố lớn có nhiều khu CN, dịch vụ giảm hoặc ngừng sản xuất….
c) Doanh thu so với trước khi có dịch: Hầu hết đều sụt giảm có doanh nghiệp giảm đến 12- 15% như CN Sông Đà, CN Lâm Đồng
d) Thu nhập bình quân người lao động/ quyền lợi của người lao động: Phần lớn được giữ nguyên như trước khi có dịch.
e) Đặc biệt không có thất nghiệp và nghỉ việc.
f) Hầu hết các doanh nghiệp đều hỗ trợ, miễn giảm tiền nước cho các hộ nghèo, cận nghèo và giảm giá nước sinh hoạt theo kêu gọi của Chính phủ.
3. Đánh giá chung
a) Hầu hết các doanh nghiệp ngành nước thực hiện nghiêm túc các quy định của cấp có thẩm quyền ban hành. Tùy vào điều kiện cụ thể, mỗi đơn vị đều ban hành các quy định để áp dụng riêng cho đơn vị.
b) Hội Cấp thoát nước Việt Nam đã kịp thời ban hành các khuyến nghị hướng dẫn các doanh nghiệp ngành nước chủ động, ngăn ngừa phòng chống dịch có hiệu quả.
c) Hội Cấp thoát nước Việt Nam đã phối hợp với Hội Nước Úc chia sẻ kinh nghiệm trong phòng chống dịch Covid. Hội Nước Úc đã cung cấp thông tin cũng như các hướng dẫn về phòng chống dịch để chia sẻ trên phương tiện truyền thông của Hội Cấp thoát nước Việt Nam. Hai Hội phối hợp tổ chức Hội thảo quốc tế trên phương tiện mạng để chia sẻ kinh nghiệp về phòng chống dịch vào đầu tháng 7/2020.
Dịch COVID-19 – giai đoạn 1 đã được khống chế có hiệu quả tại Việt Nam, Kinh tế Việt Nam đã và đang được khôi phục, các doanh nghiệp ngành nước cũng đang khôi phục có hiệu quả sản xuất đóng góp vào sự nghiệp chung của đất nước./.
PGS.TS. Nguyễn Hồng Tiến
Phó Chủ tịch – Tổng thư ký Hội Cấp thoát nước Việt Nam
Đánh giá đặc điểm và ứng dụng của Eco-Enzyme được sản xuất từ vỏ họ quả Citrus
Giải pháp kỹ thuật khắc phục khiếm khuyết dữ liệu công tác mô hình hóa hệ thống truyền tải nước sạch *
Đọc thêm
Đồng Nai nâng chuẩn tiếp cận nước sạch giai đoạn 2025 - 2030
Đặt mục tiêu đến năm 2030, 92% dân số đô thị được cấp nước sạch tập trung và 85% dân số nông thôn sử dụng nước đạt quy chuẩn, Đồng Nai đang đứng trước yêu cầu tái tổ chức lại hệ thống cấp nước theo hướng đồng bộ, ưu tiên nguồn nước mặt và thu hẹp khoảng cách giữa các khu vực.
Hà Nội điều chỉnh, bổ sung danh mục công trình thoát nước do Thành phố quản lý
Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố Hà Nội Dương Đức Tuấn vừa ký ban hành Quyết định số 816/QĐ-UBND ngày 23/02/2026 về việc điều chỉnh, bổ sung Danh mục đường, hè, cây xanh, chiếu sáng, thoát nước do Thành phố quản lý theo Quyết định số 5904/QĐ-UBND ngày 26/11/2025 của UBND Thành phố Hà Nội.
Rà soát quy định quản lý tài sản cấp nước sạch: Nhìn từ kiến nghị của cử tri Sơn La
Việc rà soát quy định giao tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch theo kiến nghị của cử tri Sơn La đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế trong ngành Nước.
Tăng cường kiểm tra an ninh kinh tế năm 2026: Doanh nghiệp ngành Nước cần lưu ý gì?
Theo Kế hoạch số 12/KH-BCA, hoạt động kiểm tra việc chấp hành pháp luật đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh sẽ được triển khai trong năm 2026. Vì vậy, các doanh nghiệp ngành Nước thuộc lĩnh vực hạ tầng thiết yếu cần chủ động rà soát, nhằm duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh ổn định trong quá trình kiểm tra.
Thoát nước đô thị: Ưu tiên bảo trì, đầu tư phù hợp điều kiện Việt Nam
Trong điều kiện Việt Nam vẫn là quốc gia đang phát triển, nguồn lực đầu tư cho hạ tầng còn hạn chế, việc tiếp cận quản lý hệ thống thoát nước và xử lý nước thải theo hướng đầu tư “vừa sức”, phân kỳ theo lộ trình, lấy công tác quản lý và bảo trì làm trọng tâm được xác định là lựa chọn phù hợp, bền vững.
Siết chặt một số quy định trong quản lý tài nguyên nước
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 23/2026/NĐ-CP ngày 17/01/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định trong lĩnh vực tài nguyên nước.
Hoàn thiện cơ chế định giá nước sạch theo phương pháp định giá chung
Thông tư số 145/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn áp dụng phương pháp định giá chung đối với nước sạch đã làm rõ nguyên tắc xác định giá thành lợi nhuận và giá bán. Cách tiếp cận này tạo sự thống nhất trong xây dựng thẩm định và điều hành giá nước sạch theo Luật Giá năm 2023 và định hướng phát triển bền vững ngành Cấp Thoát nước.
Làm rõ đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 346/2025/NĐ-CP ngày 29/12/2025 quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, trong đó chỉ rõ đối tượng chịu phí, phương thức thu và quản lý phí, phù hợp hơn với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu bảo vệ môi trường trong giai đoạn mới.
Cấp nước an toàn trước yêu cầu đổi mới tư duy quản lý và điều phối
Bảo đảm cấp nước an toàn và chống thất thoát, thất thu nước sạch không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà đã trở thành yêu cầu quản trị tổng hợp, đòi hỏi cơ chế pháp lý rõ ràng, sự vào cuộc của chính quyền và cách tiếp cận mới về nguồn nước, khu vực nông thôn và quản lý số.