Nhiệt độ
Tái sử dụng nước thải trong phát triển bền vững thích ứng với Biến đổi khí hậu
Dân số tăng nhanh cùng quá trình đô thị hóa và sự phát triển của các ngành kinh tế đã khiến nhu cầu dùng nước ngày càng cao, nguồn nước sẽ ngày càng khan hiếm. Do đó, phương án tái sử dụng nước thải gián tiếp được đề xuất áp dụng nhằm đảm bảo chất lượng nước cấp và giảm thiểu chi phí đầu tư, vận hành.
Bối cảnh chung
Nước bao phủ 70% bề mặt thế giới và gần như có ở khắp mọi nơi, tuy nhiên nước ngọt có sẵn và có thể sử dụng được chỉ chiếm 0,5% lượng nước trên Trái đất. Hiện nay, khoảng 2,2 tỷ người trên khắp thế giới vẫn chưa được tiếp cận với nguồn nước uống được quản lý an toàn và 785 triệu người thậm chí không có nước uống cơ bản.
Dự kiến dân số thế giới sẽ đạt mức 10 tỷ người ở năm 2050. Mức tăng dân số cùng với quá trình đô thị hóa và sự phát triển của các ngành kinh tế, nhu cầu dùng nước ngày càng cao, nguồn nước sẽ ngày càng khan hiếm. Tài nguyên nước phải đối mặt với áp lực hơn nữa từ ô nhiễm nguồn nước, cạn kiệt nguồn nước mặt, nước ngầm và biến đổi khí hậu.
Nguồn nước mặt ở Việt Nam
Việt Nam có hệ thống sông ngòi có mật độ tương đối cao, với hơn 3.000 sông, suối và có khoảng trên 7.160 hồ chứa [1]. Tài nguyên nước Việt Nam thuộc loại phong phú so với trung bình trên thế giới, tuy nhiên thay đổi theo vùng miền và theo mùa, mưa nhiều gây ngập lụt mùa mưa, cạn kiệt vào mùa khô. Thêm vào đó là các hiện tượng thời tiết cực đoan, biến đổi khí hậu – nước biển dâng, ảnh hưởng bởi quản lý và sử dụng nước thượng lưu, khiến tình trạng khan hiếm nước, xâm nhập mặn càng trở nên nghiêm trọng, đặc biệt như đối với sông Hồng, sông Thái Bình và các sông thuộc vùng ĐBSCL.

Hình 1. Sông Hồng cạn nước vào mùa lũ
Về chất lượng nước mặt, theo kết quả đánh giá chất lượng nước mặt thực hiện đối với các lưu vực sông lớn trên phạm vi cả nước, cho thấy nhiều lưu vực sông đã và đang bị ảnh hưởng ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt và sản xuất. Suốt thời gian qua, nước thải từ các đô thị, các khu công nghiệp, dân cư nông thôn, làng nghề, sản xuất nông nghiệp, vv… hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu hoặc không được xử lý xả thẳng ra môi trường, làm ô nhiễm các nguồn nước.
Hiện cả nước có hơn 770 đô thị, tuy nhiên tỷ lệ nước thải sinh hoạt được xử lý chỉ đạt ở mức khoảng 12% [2]. Kết quả quan trắc cho thấy hàm lượng các chất ô nhiễm trên nhiều hệ thống sông vượt tiêu chuẩn cho phép rất nhiều lần, như ở hệ thống sông Cầu, sông Nhuệ-Đáy, sông Hồng, sông Đồng Nai.

Hình 2. Ô nhiễm nguồn nước sông Đáy
Nguồn nước ngầm
Việt Nam có nguồn tài nguyên nước dưới đất phong phú, với nhiều tầng chứa nước, có chất lượng tương đối tốt, trong đó phổ biến là: Tầng chứa nước các trầm tích Holocen (qh); Tầng chứa nước các trầm tích Pleistocen giữa – trên (qp2); Tầng chứa nước các trầm tích Pleistocen dưới (qp1); Tầng chứa nước các trầm tích Pliocen (n2); Tầng chứa nước các trầm tích Miocen (n1) [3]. Tuy nhiên dữ liệu quan trắc mực nước và chất lượng nước trong những năm gần đây cho thấy mực nước ngầm ở nhiều vùng khai thác bị suy giảm, phễu hạ thấp mực nước do khai thác nước có diện tích tăng thêm, diện tích vùng bổ cập bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa. Chất lượng nước có chiều hướng xấu đi, ảnh hưởng chất ô nhiễm và xâm nhập mặn tăng thêm
Mức độ khai thác nước và nhu cầu dùng nước
Kết quả nghiên cứu của Ban Nước Toàn cầu thuộc Ngân hàng Thế giới, về chỉ số khai thác nước (tỉ lệ khai thác, sử dụng so với tổng lượng nước sẵn có) cho thấy mức độ khai thác, sử dụng nước ở các lưu vực chính của Việt Nam hiện đang tới mức không bền vững, điển hình là sông Hồng-Thái Bình, cụm sông Đông Nam Bộ và lưu vực sông Đồng Nai [4]. Theo tính toán dự báo của Ngân hàng thế giới, nhu cầu nước mùa khô của Việt Nam vào năm 2030 sẽ tăng 32% so với hiện tại và 5 lưu vực sông chính của Việt Nam, các lưu vực kinh tế trọng điểm sẽ có căng thẳng nghiêm trọng về nước [5].
Giải pháp khai thác sử dụng tổng hợp và chủ động nguồn nước một cách bền vững
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng, thực trạng nguồn nước ngày càng khan hiếm ở giai đoạn hiện tại và tương lai, bên cạnh việc quản lý nhu cầu, sử dụng nguồn nước hiệu quả và tiết kiệm, cần thiết có các giải pháp khai thác sử dụng tổng hợp và chủ động nguồn nước một cách bền vững. Các giải pháp chính được thể hiện trên Bảng 1.
Bảng 1. Giải pháp khai thác sử dụng tổng hợp và chủ động nguồn nước
Giải pháp | Nội dung giải pháp |
|---|---|
(1) Phương án chủ động nguồn nước nội địa, sử dụng nguồn nước mặt sẵn có |
|
(2) Phương án thu trữ và sử dụng nước mưa |
|
(3) Phương án tái sử dụng nguồn nước thải |
|
(4) Phương án quy hoạch sử dụng tổng hợp |
|
Tái sử dụng nước thải
Việc xử lý và tái sử dụng nước thải đạt được các mục tiêu chính sau:
- Chủ động nguồn nước cấp cho các nhu cầu sử dụng, góp phần đảm bảo yêu cầu cấp nước ngày càng tăng trong điều kiện nguồn nước khan hiếm;
- Đảm bảo tỷ lệ nước thải được xử lý với chất lượng theo yêu cầu, góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ chất lượng nguồn nước mặt và nước ngầm.

Hình 3. Chu trình xử lý và tái sử dụng nước thải
Nước thải sau xử lý được tái sử dụng ở hai hình thức, (1) Tái sử dụng trực tiếp và (2) Tái sử dụng gián tiếp. Tái sử dụng trực tiếp là nước thải sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn được cấp thẳng cho các nhu cầu sử dụng. Tái sử dụng gián tiếp, là nước thải sau xử lý sẽ được quay lại vùng đệm môi trưởng, như các nguồn nước mặt, nước ngầm, vùng đất ngập nước. Nước được đưa về tự nhiên trước khi được khai thác, xử lý ở công trình xử lý nước cấp, cấp cho các đối tượng dùng nước.
Tùy loại nước thải, với các hình thức tái sử dụng nước thải khác nhau yêu cầu mức độ và công nghệ xử lý nước thải khác nhau. Thông thường nước thải đô thị, yêu cầu xử lý bao gồm: Xử lý loại bỏ cặn, chất hữu cơ, dinh dưỡng và khử trùng nước. Các bước xử lý nước thải chính được thể hiện trên Hình 4. Xử lý nước thải loại bỏ chất hữu cơ và dinh dưỡng, thường sử dụng công nghệ sinh học AAO, bao gồm 3 bước chính: Kỵ khí (Anaerobic) – Hiếm khí (Anoxic) – Hiếu khí (Oxic).

Hình 4. Các bước xử lý nước thải chính
Xử lý và tái sử dụng nước thải gián tiếp, nước được xử lý đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn và xả ra nguồn trước khi được tái sử dụng, được đề xuất áp dụng công nghệ xử lý nước thải như trình bày ở Hình 4.
Xử lý tái sử dụng trực tiếp nước thải cho cấp nước sinh hoạt ngoài việc áp dụng công nghệ như trình bày ở trên, cần bổ sung công nghệ lọc màng, sử dụng hai loại màng lọc phổ biến là màng UF (UltraFiltration) và màng thẩm thấu ngược RO (Reverse Osmosis). Sử dụng công nghệ lọc màng trong xử lý nước thải yêu cầu chi phí đầu tư cao do màng lọc và các thiết bị đi kèm có chi phí cao, yêu cầu chi phí vận hành lớn do tốn tiền điện bơm áp lực cao để thắng được tổn thất áp lực lớn qua màng lọc. Tái sử dụng trực tiếp nước thải cũng đòi hỏi việc giám sát chất lượng nước liên tục và chặt chẽ.

Hình 5. Hình ảnh màng lọc trong xử lý tái sử dụng nước thải cấp nước uống trực tiếp – Trạm xử lý NewWater – Changi, Singapore [6]
Để đảm bảo an toàn chất lượng nước cấp, giảm thiểu chi phí đầu tư và chi phí vận hành công trình xử lý nước cấp, phương án tái sử dụng nước thải gián tiếp được đề xuất áp dụng. Nước thải sau khi xử lý đạt yêu cầu được đưa trở về tự nhiên, được lưu ở nguồn một thời gian nhất định trước khi tái sử dụng. Các wetland tự nhiên và nhân tạo với đặc điểm có đất, cây và nước cho quá trình xử lý sinh học cũng được sử dụng phổ biến trong xử lý tái sử dụng nước thải. Wetland xử lý nước có thể được kiến tạo kết hợp mục tiêu tạo cảnh quan, như ví dụ wetland xử lý chất ô nhiễm tại Nine Acre L.A, USA (Hình 6). Công nghệ xử lý nước cấp tái sử dụng nước thải tương tự như công nghệ xử lý nước mặt thông thường, bao gồm: keo tụ - tạo bông, lắng, lọc và khử trùng nước.

Hình 6. Wetland xử lý chất ô nhiễm tại Nine Acre L.A, USA
Giải pháp tái sử dụng gián tiếp nước thải cũng được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, như ở Hà Lan, Singapore, Bắc Mỹ. Nước thải sau xử lý ở Singapore một phần được tái sử dụng trực tiếp cho mục tiêu làm mát trung tâm thành phố qua hệ thống cống ngầm, một phần được xả vào các hồ chứa nước và được tái sử dụng gián tiếp, cấp nước cho các mục tiêu sử dụng nước. Bản đồ hệ thống nước ở Singapore được thể hiện trên Hình 7. Ở Hà Lan, ngoài việc tái sử dụng nước thải, quá trình xử lý nước thải còn đồng thời là quá trình thu hồi tài nguyên, ví dụ như thu hồi Protein.

Hình 7. Bản đồ hệ thống nước ở Singapore
Kết luận
Áp dụng tái sử dụng nước thải cho mục tiêu cấp nước sinh hoạt và sản xuất sẽ góp phần giảm căng thẳng nguồn nước, chủ động nguồn nước cấp cho các nhu cầu sử dụng, góp phần đảm bảo yêu cầu cấp nước ngày càng tăng trong điều kiện nguồn nước khan hiếm, đảm bảo ổn định bền vững trong cả điều kiện có ảnh hưởng bởi thời tiết cực đoan, biến đổi khí hậu hay rủi ro nguồn nước thượng lưu
Tăng cường tái sử dụng nước thải góp phần tăng tỷ lệ xử lý nước thải đạt yêu cầu, góp phần bảo vệ môi trường chung và môi trường nước nói riêng, là yêu cầu tất yếu của cuộc sống. Tái sử dụng nước thải là giải pháp bền vững thích ứng với Biến đổi khí hậu.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Tài nguyên môi trường. Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia, 2022
[2] QCVN, Bộ Tài nguyên môi trường, Thực trạng môi trường nước, 2020
[3] Nguyễn Văn Đản. Khả năng tồn tại các nguồn nước dưới đất ở vùng thềm lục địa Việt Nam, 2023
[4] WB, Ban Nước Toàn cầu, Chỉ số khai thác nước, 2019
[5] WB, Dự báo nhu cầu nước mùa khô năm 2030, 2022
[6] PUB Singapore, NewWater
[7] PUB, Singapore, The Blue Map of Singapore
Ống nhựa gân sóng 2 lớp: Giải pháp cho các công trình thoát nước bền vững
Khẩn trương xử lý ô nhiễm sông Cầu Bây theo hướng căn cơ, bền vững
Tiếng nói Xanh: Từ sân chơi trong nước đến chuẩn mực tranh biện quốc tế vì môi trường Việt Nam
Đọc thêm
Tư vấn lựa chọn máy ép bùn hiệu quả cho nhà máy cấp nước
Trong hệ thống xử lý nước cấp hiện đại, máy ép bùn được xem là thiết bị không thể thiếu, phát huy hiệu quả trong việc giảm thể tích bùn. Từ đó giúp tối ưu hóa chi phí vận hành và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường.
Tối ưu chi phí xử lý bùn thải cho doanh nghiệp ngành Nước và Môi trường
Trong vận hành hệ thống xử lý nước thải, bùn thải đang là một trong những hợp phần tiêu tốn chi phí, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả vận hành và tính bền vững của các công trình. Việc ứng dụng các giải pháp tối ưu về công nghệ và hiệu quả kinh tế trong xử lý bùn thải trở thành vấn đề cấp thiết.
Tăng cường hợp tác đào tạo, nghiên cứu giữa Trường ĐH Xây dựng Hà Nội và Công ty TNHH MTV Nước sạch Hà Nội
Ngày 15/01/2026, tại trụ sở Công ty TNHH MTV Nước sạch Hà Nội, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội (HUCE) và Công ty TNHH MTV Nước sạch Hà Nội (HAWACOM) đã tổ chức Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ và Thỏa thuận hợp tác.
Nghiên cứu giảm thiểu ăn mòn sinh học trong hệ thống thoát nước đô thị bằng bê tông hỗ trợ chất dẫn điện
Nghiên cứu đề xuất lớp lót bê tông có bổ sung vật liệu dẫn điện (magnetite, acetylene black) nhằm thúc đẩy vi khuẩn sinh điện và oxy hóa sinh học H₂S. Thí nghiệm quy mô phòng được thực hiện với các cấu hình lớp lót khác nhau.
Ứng dụng mô hình hóa trong thiết kế và vận hành, quản lý nhà máy xử lý nước thải
Bài báo này giới thiệu khái niệm, vai trò, khả năng ứng dụng, một số phần mềm mô phỏng của mô hình hóa (MHH) và quy trình (05) bước cơ bản để triển khai một dự án MHH cho nhà máy xử lý nước thải.
Biến bùn thải thành nguồn năng lượng mới
Biến bùn thải thành nguồn năng lượng mới đang trở thành một trong những giải pháp tiên tiến, vừa giải quyết vấn đề môi trường, vừa tái tạo năng lượng phục vụ cho nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.
Đánh giá khả năng dễ bị tổn thương tài nguyên nước lưu vực sông Ba*
Nghiên cứu đánh giá chỉ số dễ bị tổn thương tài nguyên nước (VI) trên lưu vực sông Ba nhằm đề xuất các giải pháp đảm bảo an ninh nguồn nước, đặc biệt là nước sinh hoạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH).
Trường Đại học Xây dựng Hà Nội tổ chức Lễ trao bằng tốt nghiệp lớp K60 Cấp Thoát nước Bình Dương
Sáng 03/01/2026, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội (HUCE) tổ chức Lễ trao bằng tốt nghiệp cho sinh viên lớp K60NCBD bậc Kỹ sư ngành Kỹ thuật Cấp thoát nước. Sự kiện không chỉ đánh dấu cột mốc trưởng thành của các tân kỹ sư, mà còn khẳng định hiệu quả mô hình hợp tác đào tạo giữa cơ sở giáo dục và doanh nghiệp ngành Nước.
Phát thải khí nhà kính trong hệ thống cấp nước Đồng bằng Sông Cửu Long
Để xác định nguồn phát thải khí nhà kính từ hệ thống cấp nước, nghiên cứu thu thập, tổng hợp, phân tích dữ liệu của các đơn vị cấp nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long sau đó tính toán lượng phát thải khí nhà kính và phân tích tiềm năng ứng dụng điện mặt trời cho một trường hợp cụ thể.