Nhiệt độ
Nghiên cứu đánh giá sự lan truyền bùn nạo vét từ Cảng Sơn Trà và khả năng ảnh hưởng đến Nhà máy nước Cầu Đỏ
Nghiên cứu này đánh giá nồng độ bùn lan truyền nhằm mục đích xem xét so sánh với các tiêu chuẩn môi trường cho phép về độ đục nhằm có các biện pháp thi công thích hợp để giảm thiểu tác động tiêu cực, đồng thời xem xét ảnh hưởng (nếu có) đến sự lan truyền bùn lơ lửng về thượng lưu sông Hàn.
* Nghiên cứu được thực hiện trước 01/7/2025
TÓM TẮT
Cảng Sơn Trà – Đà Nẵng là một cảng biển quan trọng của miền Trung với khả năng tiếp nhận tàu biển có tải trọng toàn phần đến 10,000 tấn. Nhằm đảm bảo mớn nước cần có trong quá trình khai thác vận hành, nhu cầu nạo vét cảng định kỳ là cần thiết. Trong quá trình nạo vét, hiện tượng bùn đáy bị xáo động và lan truyền trong khu vực sẽ xảy ra và cần thiết phải đánh giá một cách định lượng để đảm bảo về tiêu chuẩn bảo vệ môi trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khuếch tán và đối lưu của bùn có nồng độ cao ở vùng đáy cảng Sơn Trà sẽ lan truyền gần như trong toàn bộ vùng vịnh Đà Nẵng và đi vào vùng hạ lưu sông Hàn với nồng độ bùn lơ lửng khác nhau. Các kịch bản mô phỏng toán số cho thấy nồng độ bùn thải cao tập trung dọc vùng ven bờ vịnh phía cảng Sơn Trà. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình số trị thủy động lực 3 chiều Telemac3D trong đó xem xét hiện tượng lan truyền bùn dưới dạng khuếch tán và đối lưu chất và kết hợp với giải bài toán lan truyền sóng vùng ven bờ biển Tomawac.
Từ khoá: Cảng Sơn Trà, Telemac 3D, Tomawac, thủy động lực, lan truyền bùn
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường do sự lan truyền bùn khi nạo vét cảng Sơn Trà là điều không tránh khỏi khi thực hiện thi công nạo vét bùn đáy. Sử dụng các biện pháp thi công truyền thống như tàu hút tự hành, xáng cạp lên vận chuyển xà lan hoặc tàu hút kết hợp vận chuyển xà lan đều gây nên sự khuấy động lớp bùn đáy và một phần sẽ lan truyền trong khu vực dưới tác dụng của dòng triều và khuếch tán bùn trong khu vực thi công. Nghiên cứu này đánh giá nồng độ bùn lan truyền nhằm mục đích xem xét so sánh với các tiêu chuẩn môi trường cho phép về độ đục nhằm có các biện pháp thi công thích hợp để giảm thiểu tác động tiêu cực, đồng thời xem xét ảnh hưởng (nếu có) đến sự lan truyền bùn lơ lửng về thượng lưu sông Hàn nơi có trạm lấy nước thô Cầu Đỏ nhằm phục vụ nước sinh hoạt chủ yếu cho Tp. Đà Nẵng. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự lan truyền bùn khi nạo vét trong đó có hai yếu tố chính là hiện tượng đối lưu (chủ yếu là dòng triều trung bình, dòng chảy trong sông có ảnh hưởng hoặc không ảnh hưởng của triều) và hiện tượng khuếch tán chất do sự chênh lệch nồng độ bùn thải theo không gian. Kết quả nghiên cứu định lượng sự lan truyền khác nhau với các kịch bản khai thác (liên tục hoặc gián đoạn trong ngày) dựa trên các giả thiết về độ đục bùn vùng đáy khi bị khuấy động bởi các thiết bị thi công khai thác hút bùn. Từ đó nồng độ bùn thay đổi theo không gian và thời gian trong vùng vịnh Đà Nẵng sẽ được xác định. Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu là mô hình toán số 3 chiều với mô hình Telemac3D, bài toán sóng với mô hình Tomawac và bài toán khuếch tán đối lưu chất mô tả sự lan truyền bùn pha loãng trong khu vực. Tất cả các mô đun nêu trên đã được phát triển bởi tập đoàn Điện lực Pháp (EDF) với sự cộng tác của các phòng thí nghiệm Châu Âu và Châu Mỹ dưới dạng mã nguồn mở và được sử dụng rộng rãi trên thế giới.
II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Telemac3D mô phỏng dòng chảy 3 chiều được mô tả bởi hệ phương trình Navier-Stokes phi thủy tĩnh (từ [1] – [4]) và người lập trình có thể lựa chọn phương pháp phần tử hữu hạn hoặc thể tích hữu hạn. Bài toán số được lập trình có thể xử lý được các dạng điều kiện biên như: Biên mực nước Z, biên lưu lượng Q, biên lưu lượng và mực nước (Q & Z), biên vận tốc (u,v), biên vận tốc và mực nước (u,v& Z) hoặc dạng biên sóng đến. Các dạng biên khác nếu có sẽ được người sử dụng lập trình riêng nhờ vào phần mềm được tổ chức dưới dạng mã nguồn mở.

Trong đó: h là chiều sâu, (U,V,W) là thành phần vận tốc theo các phương, Q là lưu lượng đơn vị của nguồn, Zs là cao độ mặt thoáng, Fx,y,z là các ngoại lực tác dụng trên một đơn vị khối lượng chiếu theo các phương ngang, là hệ số khuếch tán và C là nồng độ chất. Phương trình 6 cho phép tính toán hiện tượng khuếch tán đối lưu chất trong lan truyền bùn pha loãng.
Dưới tác dụng của gió lên bề mặt đại dương sẽ gây nên hiện tượng sóng lan truyền và được mô tả bởi phương trình biểu diễn sự biến đổi của mật độ phổ sóng theo hướng bởi phương trình 7 và được giải bởi mô hình toán số tính sóng Tomawac.

Với N(x->, y-> ,k-> ,t) =N (x,y,kx,ky,t) chỉ phổ của mật độ tác dụng của sóng, Qx chỉ số liệu nguồn sóng x->=(x,y) vectơ chỉ vị trí trong hệ tọa độ Cartesian và k->=kx,ky=(ksin θ,kcos θ) vectơ chỉ số sóng, θ chỉ hướng sóng.
III. MÔ PHỎNG CHẾ ĐỘ THỦY ĐỘNG LỰC HỌC 3D VÙNG VỊNH ĐÀ NẴNG & LÂN CẬN
III.1: Miền tính
Miền tính bao gồm phía bắc vùng vịnh Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà và phía nam đến vùng cửa Đại thành phố Hội An. Chiều dài dọc bờ biển khoảng 55km, chiều rộng trung bình kể từ bờ khoảng 45km. Diện tích miền tính khoảng 2374 km2. Miền tính được mô tả bởi 40573 phần tử tam giác phi cấu trúc với lưới lớn nhất có cạnh 4000m, cạnh nhỏ nhất cho vùng sông Thu Bồn là 50m. Theo phương đứng mô hình sử dụng hệ tọa độ Z với 5 điểm nhằm nghiên cứu sự phân bố theo chiều thẳng đứng của nồng độ bùn nhấn chìm theo thời gian và không gian. Khu vực dự kiến nhấn chìm bùn có lưới phi cấu trúc có cạnh trung bình 200m.

Hình 1: Lưới mặt bằng miền tính 3

Hình 2: Điều kiện biên miền nghiên cứu
III.2: Điều kiện biên miền nghiên cứu
Thuỷ lực: Miền tính gồm có 3 biên lưu lượng trên 2 nhánh sông chính ở thượng lưu cách Cửa Đại khoảng 12 km theo đường thẳng và 1 thượng lưu sông Hàn. Do số liệu đo đạc cùng thời kỳ không có nên sơ bộ tham khảo các trạm thuỷ văn Nông Sơn, Thành Mỹ vùng thượng lưu. Nhánh sông lớn (sau cầu Câu Lâu) và nhánh nhỏ hơn (nhánh phía Nam, lui về thượng lưu cầu Cửa Đại 12 km). Lưu lượng trung bình tại các biên lỏng sông như sau: Q1(t) =50 m3/s, Q2(t) =200 m3/s, Q3(t) =100 m3/s
Mực nước và dòng triều ngoài biển: Mực nước trên biên hở tại vị trí ngoài khơi biển Đông lấy theo triều thiên văn cùng thời kỳ được lấy với 9 sóng chính (S2, N2, K2, M2, K1, O1, P1, Q1 và M4) từ cơ sở dữ liệu của OTIS có độ phân giải 1/300. Mực nước triều trên biên sẽ thay đổi theo không gian và thời gian.

Hình 3: Mực nước triều điển hình tại S1 từ 1-10/3/2018
Sóng và gió: Số liệu sóng đến ngoài biển trong cùng thời kỳ được lấy từ cơ sở dữ liệu của NOAA. Ảnh hưởng của gió (biến đổi theo không gian và thời gian) tác dụng trên mặt thoáng biển miền tính đến chế độ thủy động lực dòng chảy cũng được xét đến.

Hình 4: Diễn biến chiều cao sóng Hm0 (m) tại vị trí điển hình S1 từ 1-10/3/2018

Hình 5: Hoa gió điển hình tháng 1-10/3/2018
III. 3. Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình
Mô hình thủy động được hiệu chỉnh và kiểm định theo số liệu quan trắc tại vị trí trạm hải văn Sơn Trà, hiệu chỉnh sóng tại vị trí S1, W1 (xem hình 1). Bước hiệu chỉnh sử dụng số liệu 8 ngày từ 5/1/2019 đến 13/1/2019 như hình 6 và tổng hợp phân tích điều hòa được liệt kê ở bảng 1. Kết quả so sánh cho phép đánh giá mô phỏng phản ánh giá trị quan trắc đáng tin cậy.

Hình 6: Mực nước so sánh giữa mô phỏng và thực đo tại trạm Sơn Trà từ 5/1/2019 đến 12/1/2019
Bảng 1: Tổng hợp phân tích điều hoà
| Quan trắc | Mô phỏng | ||
| Biên độ | Pha | Biên độ | Pha |
K1 | 0.292 | 2.703 | 0.262 | 3.423 |
K2 | 0.343 | 4.147 | 0.304 | 4.117 |
M2 | 0.225 | 1.861 | 0.291 | 1.295 |
N2 | 0.231 | 6.107 | 0.084 | 5.77 |
S2 | 0.188 | 1.114 | 0.203 | 1.253 |
O1 | 0.124 | 0.481 | 0.091 | 0.341 |
P1 | 0.102 | 3.823 | 0.126 | 4.158 |
Ở bước kiểm định, số liệu thủy triều tại trạm hải văn Sơn Trà từ 12/4/2019 đến 18/4/2019 được so sánh (xem hình 7) và tính toán tổng hợp điều hòa ở bảng 2. Kết quả so sánh cho phép đánh giá mô phỏng phản ánh giá trị quan trắc đáng tin cậy.

Hình 7: Mực nước so sánh giữa mô phỏng và thực đo từ 12/4/2019 đến 18/4/2019 tại trạm Sơn Trà
Bảng 2: Tổng hợp phân tích điều hoà
| Quan trắc | Mô phỏng | ||
| Biên độ | Pha | Biên độ | Pha |
M2 | 0.266 | 1.290 | 0.305 | 1.235 |
K2 | 0.189 | 4.978 | 0.213 | 4.929 |
P1 | 0.176 | 5.485 | 0.152 | 5.365 |
S2 | 0.126 | 2.119 | 0.156 | 2.247 |
O1 | 0.122 | 5.036 | 0.165 | 5.033 |
K1 | 0.084 | 3.667 | 0.078 | 3.49 |
N2 | 0.047 | 4.094 | 0.058 | 3.994 |
Mô hình được tiếp tục hiệu chỉnh với số liệu sóng quan trắc từ tháng 16/10/2014 đến 12/11/2014 ở hình 8 và 9, sau đó được kiểm định với số liệu sóng quan trắc từ 19/10/2016 đến 25/10/2016 theo điều kiện dữ liệu sẵn có. Kết quả hiệu chỉnh tính sóng cho mô hình cho thấy hiệu chỉnh mô hình là tương đối tốt.

Hình 8: Chiều cao sóng HM0 tại vị trí S1 từ 16/10/2014 đến 12/11/2014

Hình 9: Chiều cao sóng HM0 tại vị trí W1 từ 19/10/2016 đến 25/10/2016
IV. KẾT QUẢ & THẢO LUẬN
Để đánh giá sự lan truyền bùn khi nạo vét, một số giả thiết và kịch bản sau đây đã được mô phỏng:
Thời gian khai nạo vét trong 1 ngày: 8h/ngày
Có 2 phương án thi công: PA1: thi công liên tục 8h, bắt đầu từ 8h sáng và kết thúc lúc 16h. PA2: thi công 2 ca mỗi ca 4h và 2 ca cách nhau 2h, ca 1 từ 8h đến 12h và ca 2 từ 14h đến 18h.
Khi nạo vét lớp bùn đáy sẽ bị xáo động và có nồng độ bùn lơ lửng lớn nhất giả thiết là 50kg/m3. Từ đó giá trị nồng độ bùn lơ lửng trung bình lớn nhất theo phương thẳng đứng tại vị trí nạo vét khoảng 10kg/m3.

Hình 4.1: Vị trí m/c 1-1 & 2-2 và điểm điển hình Akhai thác kết quả

Hình 4.2: Phân bố 3D nồng độ bùn sau 10 ngàykhai thác kết quả nạo vét (lúc 18h ngày 10/3/2018)

Hình 10: Nồng độ bùn tại mặt cắt 1-1 sau khi bắt đầu nạo vét 1h (lúc 9h ngày 1/3/2018)

Hình 11: Nồng độ bùn TB theo phương Z sau khi nạo vét 1h (lúc 9h ngày 1/3/2018) bắt đầu nạo vét 1h (lúc 9h ngày 1/3/2018)

Hình 12: Nồng độ bùn lúc 18h, ngày 1/3/2018 (nạo vét bắt đầu 8h, liên tục trong 8h)

Hình 13: Nồng độ bùn lúc 24h, ngày 1/3/2018 (nạo vét bắt đầu 8h, liên tục trong 8h)

Hình 14: Nồng độ bùn tại mặt cắt 1-1 lúc 18h (a) và 24 (b) ngày 5/3/2018
Nhận xét: Từ kết quả tại 2 thời điểm xem xét cách nhau 6h cho thấy vùng bùn đã lan rộng ra xa kể từ vị trí nạo vét cảng Sơn Trà. Trong khi đó vùng có nồng độ bùn cao xảy ra lúc 18h cao hơn lúc 24h (lưu ý là trong phương án thi công liên tục 8h trong ngày và bắt đầu lúc 8h, thi công đã tạm dừng lúc 16h, điều này giải thích nồng độ bùn cao hơn lúc 18h so với lúc 24h. Tuy nghiên mặc dù ngưng tạm thi công lúc 18h nhưng bùn vẫn tiếp tục lan rộng, kết quả này giải thích diện tích vùng bùn lan rộng vào lúc 24h lớn hơn lúc 18h).
Các đồ thị sau đây trình bày sự lan truyền theo phương ngang sau 5 ngày và sau 10 ngày thi công nạo vét:

Hình 15: Nồng độ bùn sau 5 ngày thi công lúc 0h, ngày 6/3/2018

Hình 16: Nồng độ bùn sau 10 ngày thi công, lúc 0h, ngày 10/3/2018
Kết quả mô phỏng cho thấy nồng độ bùn cát tối thiểu 0.1 kg/m3 bao phủ gần như toàn bộ vùng vịnh Đà Nẵng sau 10 ngày thi công nạo vét, tập trung chung quanh khu vực cảng nạo vét. Bùn lan truyền không đi vào xa về thượng nguồn sông Hàn, chỉ tập trung tại vùng cửa sông.
Nhằm đánh giá ảnh hưởng của phương pháp thi công (liên tục 8h trong ngày hoặc 2 ca/ngày, với mỗi ca 4h và nạo vét thực hiện trong chu kỳ trong 10 ngày) và thời điểm thi công (xét 2 thời điểm điển hình bắt đầu là 0h, ngày 1/3/2018 và 0h, ngày 1/6/2018), các kịch bản đã được mô phỏng. Các đồ thị sau trình bày tóm tắt kết quả điển hình.

Hình 17: Trường vận tốc thặng dư từ ngày 1/3/2018 đến 10/3/2018

Hình 18: Trường vận tốc thặng dư từ ngày 1/6/2018 đến 10/6/2018

Hình 19: Nồng độ bùn trung bình tại vị trí [A] (từ 1/3/2018 đến 10/3/2018)
Nhận xét:
Ảnh hưởng của phương pháp thi công liên tục 8h trong ngày hoặc 2 ca, mỗi ca 4h/ngày cho thấy giá trị nồng độ bùn max trong trường hợp thi công 2 ca so với 1 ca liên tục sẽ giảm khoảng 0.3 (kg/m3). Tác động của phương pháp thi công 2 ca cách nhau 2h giải thích sự giảm nồng độ bùn cục bộ trong thời gian không thi công này.
Ngoài ra kết quả trình bày trong 2 hình nêu trên cũng cho thấy ảnh hưởng của thời kỳ thi công lên nồng độ bùn (sự khác biệt giữa 2 trường vận tốc trung bình thặng dư khác nhau, hình 4.10 và 4.11, của 10 ngày đầu tháng 3 và tháng 6). So với kết quả nồng độ bùn max khi thi công trong 10 ngày đầu tháng 3/2018, thi công trong 10 ngày đầu tháng 6/2018 có phần nhỏ hơn (khoảng 0.2 kg/m3). Kết quả này có thể giải thích ảnh hưởng của dòng triều khác nhau cho 2 thời đoạn mô phỏng này.
V. KẾT LUẬN
Trên cơ sở kết quả mô phỏng với các kịch bản thi công trong 10 ngày và thời điểm nạo vét cảng Sơn Trà nêu trên có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Sự lan truyền nồng độ bùn sau 10 ngày gần như toàn vùng vịnh Đà Nẵng với nồng độ bùn tối thiểu 0.1 kg/m3. Bùn lan truyền không đi sâu về thượng nguồn sông Hàn, do đó sự nạo vét cảng Sơn Trà không ảnh hưởng đến sự ô nhiễm bùn tại vị trí lấy nước thô trên sông Hàn của nhà máy nước Cầu Đỏ.
Nồng độ bùn ở vùng đáy nạo vét nhanh chóng được pha loãng với nước tại môi trường chung quanh dưới tác dụng của hiện tượng khuếch tán và đối lưu và lan truyền giảm dần khi ra xa so với vị trí cảng Sơn Trà. Sự lan truyền này có thể lan truyền đến vùng cửa sông Hàn với nồng độ bùn tối thiểu 0.1 kg/m3.
Phương pháp thi công gián đoạn trong ngày có xu thế làm giảm nồng độ bùn lớn nhất so với thi công liên tục (xét cùng thời gian nạo vét trong ngày là 8h). Thời đoạn thi công cũng ảnh hưởng đến nồng độ bùn lớn nhất xảy ra trong khu vực do ảnh hưởng chính là dòng triều sẽ khác nhau cho các thời đoạn thi công khác nhau. Lưu ý rằng kết quả mô phỏng chỉ có giá trị tham khảo trên cơ sở giả định nồng độ bùn khuấy động dưới đáy khi nạo vét là 50 kg/m3. Giá trị này có thể thay đổi theo các biện pháp nạo vét khác nhau.
Lời cám ơn: Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) trong khuôn khổ Đề tài mã số đề tài C2024-20-29.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. NGUYEN Kim Đan et al., (2017). "Nghiên cứu hiện tượng xói lở bờ biển Hội An và giải pháp khắc phục".
2. PHẠM Văn Huấn (2002). Động lực học Biển-Phần 3: Thủy triều. Đại Học Quốc Gia Hà Nội.
3. HERVOUET Jean Michel (2007). Hydrodynamics of Free Surface Flows modelling with the finite element method. WILEY.
4. LANG Pierre et al. (2022). Telemac 3D Manuel Utilisateur V8p4. EDF.
5. MEISSNER Loren P. (1995). Fortran 90. PWS Publishing Company.
6. NOAA. National Geophysical Center. http://www.ngdc.noaa.gov/mgg/global/global.html.
7. OTIS Regional Tidal Solutions. http://volkov.oce.orst.edu/tides/region.html.
Tác giả: TS. Nguyễn Quang Trưởng1,2, TS. Hồ Tuấn Đức1,3, ThS. Phan Quang Hưng1,2, ThS. Trịnh Đình Vũ1,2
1 Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, TPHCM, Việt Nam
2 Khoa Kỹ thuật Xây dựng, Trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh (HCMUT), 268 Lý Thường Kiệt, Quận 10, TPHCM, Việt Nam
3 Trung tâm châu Á nghiên cứu về nước (CARE), HCMUT, 268 Lý Thường Kiệt, Quận 10, TPHCM, Việt Nam
Ống nhựa gân sóng 2 lớp: Giải pháp cho các công trình thoát nước bền vững
Khẩn trương xử lý ô nhiễm sông Cầu Bây theo hướng căn cơ, bền vững
Tiếng nói Xanh: Từ sân chơi trong nước đến chuẩn mực tranh biện quốc tế vì môi trường Việt Nam
Đọc thêm
Tư vấn lựa chọn máy ép bùn hiệu quả cho nhà máy cấp nước
Trong hệ thống xử lý nước cấp hiện đại, máy ép bùn được xem là thiết bị không thể thiếu, phát huy hiệu quả trong việc giảm thể tích bùn. Từ đó giúp tối ưu hóa chi phí vận hành và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường.
Tối ưu chi phí xử lý bùn thải cho doanh nghiệp ngành Nước và Môi trường
Trong vận hành hệ thống xử lý nước thải, bùn thải đang là một trong những hợp phần tiêu tốn chi phí, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả vận hành và tính bền vững của các công trình. Việc ứng dụng các giải pháp tối ưu về công nghệ và hiệu quả kinh tế trong xử lý bùn thải trở thành vấn đề cấp thiết.
Tăng cường hợp tác đào tạo, nghiên cứu giữa Trường ĐH Xây dựng Hà Nội và Công ty TNHH MTV Nước sạch Hà Nội
Ngày 15/01/2026, tại trụ sở Công ty TNHH MTV Nước sạch Hà Nội, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội (HUCE) và Công ty TNHH MTV Nước sạch Hà Nội (HAWACOM) đã tổ chức Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ và Thỏa thuận hợp tác.
Nghiên cứu giảm thiểu ăn mòn sinh học trong hệ thống thoát nước đô thị bằng bê tông hỗ trợ chất dẫn điện
Nghiên cứu đề xuất lớp lót bê tông có bổ sung vật liệu dẫn điện (magnetite, acetylene black) nhằm thúc đẩy vi khuẩn sinh điện và oxy hóa sinh học H₂S. Thí nghiệm quy mô phòng được thực hiện với các cấu hình lớp lót khác nhau.
Ứng dụng mô hình hóa trong thiết kế và vận hành, quản lý nhà máy xử lý nước thải
Bài báo này giới thiệu khái niệm, vai trò, khả năng ứng dụng, một số phần mềm mô phỏng của mô hình hóa (MHH) và quy trình (05) bước cơ bản để triển khai một dự án MHH cho nhà máy xử lý nước thải.
Biến bùn thải thành nguồn năng lượng mới
Biến bùn thải thành nguồn năng lượng mới đang trở thành một trong những giải pháp tiên tiến, vừa giải quyết vấn đề môi trường, vừa tái tạo năng lượng phục vụ cho nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.
Đánh giá khả năng dễ bị tổn thương tài nguyên nước lưu vực sông Ba*
Nghiên cứu đánh giá chỉ số dễ bị tổn thương tài nguyên nước (VI) trên lưu vực sông Ba nhằm đề xuất các giải pháp đảm bảo an ninh nguồn nước, đặc biệt là nước sinh hoạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH).
Trường Đại học Xây dựng Hà Nội tổ chức Lễ trao bằng tốt nghiệp lớp K60 Cấp Thoát nước Bình Dương
Sáng 03/01/2026, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội (HUCE) tổ chức Lễ trao bằng tốt nghiệp cho sinh viên lớp K60NCBD bậc Kỹ sư ngành Kỹ thuật Cấp thoát nước. Sự kiện không chỉ đánh dấu cột mốc trưởng thành của các tân kỹ sư, mà còn khẳng định hiệu quả mô hình hợp tác đào tạo giữa cơ sở giáo dục và doanh nghiệp ngành Nước.
Phát thải khí nhà kính trong hệ thống cấp nước Đồng bằng Sông Cửu Long
Để xác định nguồn phát thải khí nhà kính từ hệ thống cấp nước, nghiên cứu thu thập, tổng hợp, phân tích dữ liệu của các đơn vị cấp nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long sau đó tính toán lượng phát thải khí nhà kính và phân tích tiềm năng ứng dụng điện mặt trời cho một trường hợp cụ thể.