Nhiệt độ
Nước thải công nghiệp đe dọa môi trường sống tại Việt Nam
Sản xuất công nghiệp ở Việt Nam đã gây ô nhiễm nguồn nước cục bộ, chủ yếu ở trung và hạ lưu, đặc biệt tăng cao vào mùa khô, Bộ Tài nguyên và Môi trường cảnh báo.
Tình trạng ô nhiễm cục bộ xuất hiện tập trung ở các đoạn sông chảy qua khu vực đông dân cư, khu đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, Bộ TN&MT nêu trong Báo cáo Tài nguyên nước quốc gia giai đoạn 2016-2021, công bố ngày 29/7/2022.
Báo cáo tổng hợp kết quả quan trắc chất lượng nước tại 1.070 vị trí nước mặt và 412 vị trí nước ngầm.
Đặc biệt mức độ ô nhiễm tăng cao vào mùa kiệt, khi lượng nước chảy vào các con sông giảm như trên sông Nhuệ, Đáy, Bắc Hưng Hải, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) ngày càng gia tăng do dòng chảy mùa lũ giảm, nước biển dâng.

“Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế vượt bậc, quá trình đô thị hóa nhanh, các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp gia tăng kéo theo các hoạt động xả nước thải, nhất là nước thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn xả vào nguồn nước, đã và đang tác động và gây sức ép ngày càng lớn, nghiêm trọng đến cả số lượng và chất lượng nguồn nước các sông, suối và các TCN”, báo cáo nêu.
Tính đến hết năm 2020 cả nước mới chỉ có 141/968 cụm công nghiệp (chiếm 19,3%) có hệ thống xử lý nước thải tập trung đi vào hoạt động, VnEconomy trích số liệu Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) tổng hợp từ các tỉnh, thành phố trong cả nước.
Nguyên nhân chủ yếu do tình trạng quy hoạch của cụm khu công nghiệp còn thiếu đồng bộ, việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường còn gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, việc thanh tra, kiểm tra công tác quản lý môi trường tại các cụm công nghiệp chưa thường xuyên, chế tài xử phạt còn thấp, chưa đủ sức răn đe.

Tình trạng ô nhiễm này tập trung chủ yếu ở những thành phố lớn như Hà Nội và TP. HCM. Hình ảnh những con sông có màu đen bốc mùi hôi thối như sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét không còn xa lạ.
Mỗi năm, Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong do nguồn nước bẩn, theo một thống kê từ 2014 của Bộ Y Tế và Bộ TN&MT.
Thống kê của hai bộ cũng ước tính khoảng 20.000 người phát hiện bị ung thư do sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm, và khoảng 1/5 dân số sử dụng nước giếng khoan, là nguồn dễ bị nhiễm Asen, một chất hóa học cực độc thường được sử dụng trong thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu.
Ngoài ra, khoảng 44% trẻ em bị nhiễm giun, 27% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng do sử dụng nước không đạt chuẩn mỗi năm, theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá ô nhiễm chất lượng nước có thể làm giảm 4,3% GDP mỗi năm. Nếu Việt Nam không áp dụng các giải pháp để giải quyết triệt để vấn đề xử lý nước thải thì GDP của Việt Nam sẽ giảm 2,5% vào năm 2035 và sẽ tăng 2,3% nếu được giải quyết triệt để, WB nêu trong một báo cáo công bố năm 2019.
Đây là những con số đáng báo động đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước đang ngày càng gia tăng tại Việt Nam. Từ đó, việc áp dụng khoa học công nghệ và kiểm soát chặt chẽ trong quá trình xử lý nước thải công nghiệp là yếu tố vô cùng quan trọng, quyết định đến chất lượng nước và cuộc sống của người dân.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng trong việc bảo vệ môi trường đối với sự phát triển bền vững, Công ty Nhựa Borouge là một trong những doanh nghiệp tiên phong cam kết hướng tới nền kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường.

Trao đổi với Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam, bà Julia Patrice Putih, Quản lý cấp cao khu vực Nam Á của công ty nhựa Borouge, cho biết: “Thực trạng ô nhiễm môi trường nước ngày càng được chính phủ nhiều nước quan tâm. Các khu vực khác nhau đang hướng tới một tiêu chuẩn cao hơn về tình bền vững, đặc biệt là các nước phát triển ở Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Úc”.
Bà Putih cho biết thêm, việc nhận thức được tầm quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường đã khiến Borouge phải thay đổi trong tôn chỉ hoạt động sản xuất và kinh doanh.
Công ty cam kết giảm thiểu tiêu thụ nước và tối đa hóa lượng nước sạch được trả lại môi trường. Tại nhà máy Ruwais, Borouge không sử dụng bất kỳ nguồn nước ngầm nào mà thu gom nước mưa hoặc sử dụng nước thải từ các nhà máy khác để phục vụ sản xuất.
Trong đó, nước biển được sử dụng với mục đích làm mát và được xử lý trong một hệ thống vòng kín chiếm 99,7% tổng lượng nước. Do đó, hầu hết nước biển được hút lên sử dụng làm mát và được trả lại biển.
Trong quá trình sản xuất, Borouge xử lý tại chỗ nước thải công nghiệp tại ba nhà máy. Quy trình xử lý bao gồm: thu hồi và loại bỏ dầu, xử lý sinh học, xử lý nước thải bậc ba và lọc.
Một phần lượng nước thải này sẽ được sử dụng tưới tiêu trong khuôn viên nhà máy. Phần còn lại trước khi được thải ra môi trường sẽ được phân tích trong phòng thí nghiệm của Borouge để đảm bảo các tiêu chuẩn về xả thải. Trong năm 2020, 181.656 m3 nước đã được công ty này tái sử dụng cho mục đích tưới tiêu.
Theo bà Putih, sự chuyển dịch trong quá trình sản xuất là kết quả tất yếu do yêu cầu về chất lượng sản phẩm bền vững ngày càng cao của khách hàng. Tuy nhiên, đến nay ở Việt Nam, điều này chưa thực sự được chú trọng.

Nhằm giảm lượng nước thải chưa qua xử lý ra môi trường, đồng thời nâng cao chất lượng nguồn tài nguyên nước, Báo cáo Tài nguyên nước quốc gia giai đoạn 2016-2021 của Bộ TN&MT đề xuất thực hiện những giải pháp mang tính tổng thể, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương và tập trung vào 1 số giải pháp sau:
Một là, tăng cường đầu tư, nâng cấp, nâng cao hiệu quả sử dụng nước, chỉ tiêu đảm bảo an ninh tài nguyên nước, chủ động nguồn nước cho ngành công nghiệp.
Hai là, tăng cường đầu tư, nâng cao chỉ tiêu đảm bảo an ninh tài nguyên nước trong thu gom, xử lý nước thải và thoát nước.
Ba là, tăng cường các hoạt động nghiên cứu, hợp tác quốc tế, chuyển giao khoa học công nghệ.
Bốn là, tăng cường thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc đảm bảo an ninh, tài nguyên nước quốc gia.
Đọc thêm
DEKKO đồng hành phát triển nuôi biển bền vững tại Việt Nam
Chuyển đổi nuôi biển theo hướng công nghiệp, có quy hoạch không chỉ đòi hỏi thay đổi phương thức sản xuất mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết về các giải pháp hạ tầng nuôi biển bền vững.
Thoát nước đô thị: Ưu tiên bảo trì, đầu tư phù hợp điều kiện Việt Nam
Trong điều kiện Việt Nam vẫn là quốc gia đang phát triển, nguồn lực đầu tư cho hạ tầng còn hạn chế, việc tiếp cận quản lý hệ thống thoát nước và xử lý nước thải theo hướng đầu tư “vừa sức”, phân kỳ theo lộ trình, lấy công tác quản lý và bảo trì làm trọng tâm được xác định là lựa chọn phù hợp, bền vững.
Vật liệu đồng bộ - yếu tố then chốt đảm bảo hệ thống cấp thoát nước bền vững
Khi hạ tầng đô thị ngày càng chịu nhiều áp lực từ môi trường và đô thị hóa, việc lựa chọn vật liệu cấp thoát nước ổn định, đồng bộ đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Giải pháp vật liệu phù hợp không chỉ quyết định độ bền công trình mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư.
NewIBNET và chuyển đổi số: Lấy dữ liệu làm nền tảng nâng cao hiệu quả doanh nghiệp ngành Nước
Ngày 20/01/2026, tại TP. HCM, Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA) phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) tổ chức Chương trình đào tạo NewIBNET và chuyển đổi số cho các doanh nghiệp cấp nước. Đây là hoạt động mở đầu năm 2026 của ngành Nước, đồng thời tiếp nối kết quả giai đoạn 1 và mở rộng sang giai đoạn 2 với nội dung chuyên sâu hơn.
Nghiên cứu giảm thiểu ăn mòn sinh học trong hệ thống thoát nước đô thị bằng bê tông hỗ trợ chất dẫn điện
Nghiên cứu đề xuất lớp lót bê tông có bổ sung vật liệu dẫn điện (magnetite, acetylene black) nhằm thúc đẩy vi khuẩn sinh điện và oxy hóa sinh học H₂S. Thí nghiệm quy mô phòng được thực hiện với các cấu hình lớp lót khác nhau.
Ứng dụng mô hình hóa trong thiết kế và vận hành, quản lý nhà máy xử lý nước thải
Bài báo này giới thiệu khái niệm, vai trò, khả năng ứng dụng, một số phần mềm mô phỏng của mô hình hóa (MHH) và quy trình (05) bước cơ bản để triển khai một dự án MHH cho nhà máy xử lý nước thải.
Những lợi thế độc bản kiến tạo siêu đô thị biển Vinhomes Green Paradise
Thế giới đang không ngừng phát triển thêm các đô thị ESG nhưng cực hiếm địa thế có thể tạo nên một siêu đô thị vượt chuẩn ESG như "kỳ quan đô thị" Vinhomes Green Paradise (Cần Giờ, TP HCM).
Đánh giá khả năng dễ bị tổn thương tài nguyên nước lưu vực sông Ba*
Nghiên cứu đánh giá chỉ số dễ bị tổn thương tài nguyên nước (VI) trên lưu vực sông Ba nhằm đề xuất các giải pháp đảm bảo an ninh nguồn nước, đặc biệt là nước sinh hoạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH).
Hoàn thiện cơ chế định giá nước sạch theo phương pháp định giá chung
Thông tư số 145/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn áp dụng phương pháp định giá chung đối với nước sạch đã làm rõ nguyên tắc xác định giá thành lợi nhuận và giá bán. Cách tiếp cận này tạo sự thống nhất trong xây dựng thẩm định và điều hành giá nước sạch theo Luật Giá năm 2023 và định hướng phát triển bền vững ngành Cấp Thoát nước.