Ngăn sông trữ ngọt cho đồng bằng sông Cửu Long

14/05/2020 00:00

Theo GS.TS Nguyễn Quốc Dũng, Hội Đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam, một trong những giải pháp giữ nước ngọt hiệu quả là biến những dòng sông trở thành hồ trữ ngọt.

Theo GS.TS Nguyễn Quốc Dũng, Hội Đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam, một trong những giải pháp giữ nước ngọt hiệu quả là biến những dòng sông trở thành hồ trữ ngọt.

GS.TS Nguyễn Quốc Dũng (bên phải ngoài cùng) trao đổi với PV Báo Nông nghiệp Việt Nam về giải pháp phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn tại ĐBSCL. Ảnh: NNVN.
GS.TS Nguyễn Quốc Dũng (bên phải ngoài cùng) trao đổi với PV Báo Nông nghiệp Việt Nam về giải pháp phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn tại ĐBSCL. Ảnh: NNVN.
 
Chấp nhận sống chung với hạn, mặn

Theo GS.TS Nguyễn Quốc Dũng – Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam, ĐBSCL là một trong 5 vùng trên thế giới chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu. Các nhà khoa học đã tính toán rằng, với kịch bản biến đổi khí hậu trung bình, đến năm 2100 mực nước biển dâng lên 70cm.

Nhưng ở Việt Nam, tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ) đã tiến hành đo độ lún ở ĐBSCL tại 3 điểm của Cà Mau trong nhiều năm và đưa ra con số tốc độ lún bình quân ở vùng đất này khoảng 2,5cm/năm. Như vậy, 100 năm nữa ĐBSCL sẽ lún 2,5m. Thậm chí, có dự đoán còn cho rằng ĐBSCL chỉ còn tồn tại khoảng 80 năm.

Tất nhiên đó mới chỉ là dự đoán và hơi cực đoan, chúng ta vẫn phải tiếp tục nghiên cứu, vì chương trình của GIZ đang tiếp tục đo ở các vùng khác, chứ không thể lấy kết quả đo của Cà Mau để khái quát cho cả vùng đồng bằng rộng lớn.

Năm 2020, nước mặn xâm nhập sâu kỷ lục vào đất liền tại các tỉnh ven biển miền Tây Nam bộ. Ảnh: Quang Dũng.
Năm 2020, nước mặn xâm nhập sâu kỷ lục vào đất liền tại các tỉnh ven biển miền Tây Nam bộ. Ảnh: Quang Dũng.

Tuy nhiên, có thể khẳng định chắc chắn là ĐBSCL đã và sẽ bị tác động mạnh mẽ bởi nước biển dâng và biến đổi khí hậu, vì cao độ của vùng đất này thấp. Chúng ta có thể liên tưởng đến Hà Lan, quốc gia phần lớn nằm ở độ cao dưới mực nước biển (lại còn có những vùng người ta phải đắp đê sau đó hút nước ra, chẳng hạn như sân bay Amtesdam nằm ở độ cao thấp hơn mực nước biển khoảng 7 – 8m).

Từ năm 1953, sau trận lũ lịch sử, người Hà Lan đã đẩy mạnh đắp đê lấn biển, nhưng những sáng kiến trị thủy của Hà Lan không phải lúc nào cũng đúng ngay từ đầu. Ví dụ, họ làm đê ngăn mặn, nhưng một thời gian sau, nhận thấy những con đê chính là tác nhân tác động xấu đến môi trường. Về sau, Hà Lan phải mở đê (bằng cách mở cống) để trả lại dòng chảy tự nhiên, chỉ khi nào cần thiết (bão trên biển Bắc) mới đóng cống lại.

Ở Việt Nam, gần đây chúng ta nhận thức mới được vấn đề này và đã chuyển từ khái niệm ngăn mặn sang kiểm soát mặn, thích ứng với mặn. Các cống thủy lợi đã dần khép kín một vùng rộng lớn, để giữ nước ngọt trong kênh rạch, ngăn mặn ngoài sông trong một giai đoạn ngắn. Phần lớn thời gian trong năm trả về trạng thái lưu thông tự nhiên.

Ngăn sông trữ ngọt - giải pháp hay

Để kiểm soát mặn ở ĐBSCL thì cần làm tốt hai việc. Thứ nhất phải nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo hạn mặn để chủ động ứng phó. Thứ hai phải có hệ thống dự báo khí tượng thủy văn dài hạn và có mô hình thủy lực tính hệ thống sông ngòi vùng ĐBSCL được nghiên cứu và hoàn thiện dần trong nhiều năm.
Hiện nay, rất mừng là mỗi xã vùng ảnh hưởng ở ĐBSCL đều được trang bị thiết bị đo mặn; công tác dự báo sớm về hạn, mặn do đó cũng khá chính xác. Nhờ đó trong vụ đông xuân 2019 – 2020, chúng ta đã thay đổi cơ cấu mùa vụ, đẩy lịch gieo cấy sớm hơn khoảng 1 tháng để né hạn hán, xâm nhập mặn.

GS.TS Nguyễn Quốc Dũng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam. Ảnh: NNVN.
GS.TS Nguyễn Quốc Dũng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam. Ảnh: NNVN.

Nếu hạn mặn lịch sử năm 2016 có hơn 400.000 ha cây trồng bị thiệt hại vì nhiễm mặn, thì năm 2020, hạn mặn khốc liệt hơn 2016 nhưng diện tích bị ảnh hưởng thiệt hại chỉ khoảng 57.000 ha.

Những năm qua, chúng ta đã đầu tư và sớm đưa vào những công trình kiểm soát mặn lớn như cống Ninh Quới, cống Xuân Hòa, cống Vũng Liêm... Trong đó, 6 công trình lớn đã vượt tiến độ hoàn thành trước 6 – 14 tháng, đã hỗ trợ đắc lực trong việc kiểm soát mặn vụ đông xuân 2019 – 2020, với diện tích khoảng 300.000 ha.

Về mặt công trình, trước đây sử dụng các cửa van tự động thủy lực để ngăn mặn, giữ ngọt. Với loại cửa tự động này chúng ta không chủ động trong việc vận hành. Từ 2 năm trước, Bộ NN-PTNT đã cho thay đổi các cửa van tự động thành cửa van phẳng, có thể đóng mở bất kỳ lúc nào. Có nghĩa là, khi độ mặn nước sông cho phép thì mở cửa lấy nước vào kênh.

Đến nay, Bộ NN-PTNT đã cho sửa trên 100 cống như vậy, chưa kể số các địa phương tự làm. Sắp tới còn tiếp tục làm. Còn các cống mới xây dựng thì tất nhiên là đều dùng loại có thể chủ động đóng mở.

Bộ NN-PTNT cũng đã đầu tư xây dựng các cống lớn để kiểm soát mặn, bao cho cả vùng lớn. Ví dụ như xây dựng cống Cái Lớn - Cái Bé tổng mức đầu tư trên 3.300 tỷ đồng phát huy hiệu quả trực tiếp cho trên 380.000ha của 4 tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu và Cà Mau.

Một số địa phương ở ĐBSCL đã đắp đập tạm để ngăn mặn và giữ ngọt trên các sông cụt, qua đó trữ được nguồn nước để phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Ảnh: Quang Dũng.
Một số địa phương ở ĐBSCL đã đắp đập tạm để ngăn mặn và giữ ngọt trên các sông cụt, qua đó trữ được nguồn nước để phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Ảnh: Quang Dũng.

Nếu cống Cái Lớn - Cái Bé đi vào vận hành, chúng ta chỉ đóng khoảng 15 ngày để ngăn mặn vào thời kỳ triều cường cao, còn lại là mở liên tục quanh năm. Hệ thống thủy lợi này sẽ giữ được một số lượng nước ngọt khổng lồ cho 4 tỉnh nói trên.

Bộ NN-PTNT cũng tiếp tục đầu tư hoàn thiện khép kín các hệ thống thủy lợi lớn, ví dụ như hệ thống thủy lợi Bắc Bến Tre. Tiếc rằng, do còn 1 cống không kịp tiến độ nên mùa khô vừa qua Bến Tre bị mặn xâm nhập nghiêm trọng, phải cấp cứu bằng đập tạm. Tôi tin rằng, đến thời kỳ hạn hán, xâm nhập mặn năm 2021, khi hệ thống kiểm soát mặn vùng Bắc Bến Tre hoàn chỉnh thì tỉnh này sẽ thu hẹp rất nhiều diện tích ảnh hưởng do thiên tai.

Có thể nói, ngăn sông tạo hồ trữ ngọt đang là một giải pháp chống hạn mặn hiệu quả ở ĐBSCL trong thời gian qua.

Công trình trọng điểm Cái Lớn - Cái Bé

Dự án thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé triển khai xây dựng tại huyện Châu Thành và huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, gồm: cống Cái Lớn, cống Cái Bé và đê nối với quốc lộ 61. Hệ thống thủy lợi Cái Lớn, Cái Bé giai đoạn 1, do Bộ NN-PTNT là cấp quyết định đầu tư, Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 10 là chủ đầu tư, có tổng vốn đầu tư hơn 3.000 tỷ đồng. Quy mô, công trình cống Cái Lớn có tổng chiều rộng thông nước là 455 m, gồm 11 khoang. Cống Cái Bé tổng chiều rộng thông nước 85 m, gồm 2 khoang. Cửa van cống và van âu thuyền bằng thép, vận hành bằng hệ thống xi lanh thủy lực. Trên cống có cầu giao thông tải trọng 30T (HL93).

Nhiệm vụ của dự án nhằm kiểm soát nguồn nước, tạo điều kiện sản xuất ổn định, bền vững đối với các mô hình sản xuất theo hệ sinh thái ngọt, mặn, lợ, ngọt lợ luân phiên. Vùng hưởng lợi của dự án giai đoạn 1 với diện tích tự nhiên là hơn 384.000 ha. Trong đó đất sản xuất nông nghiệp, thủy sản là trên 346.000 ha. Kết hợp với tuyến đê biển Tây, tạo thành cụm công trình chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, phòng chống thiên tai, giảm ngập úng… Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông bộ, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong khu vực.
 
Theo MINH PHÚC-QUANG DŨNG/Báo Nông nghiệp
Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Toàn cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Cấp Thoát nước Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031

Toàn cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Cấp Thoát nước Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031

Sáng 18/9/2026 tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Cấp Thoát nước Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã diễn ra thành công, đánh dấu bước chuyển tiếp quan trọng của Hội.

Cấp nước Điện Biên: Bước chuyển mình từ mở rộng công suất sang vận hành thông minh

Cấp nước Điện Biên: Bước chuyển mình từ mở rộng công suất sang vận hành thông minh

Địa hình phân tầng, độ dốc lớn cùng sự phân bố dân cư không đồng đều đang đặt ra những thách thức không nhỏ cho hạ tầng cấp nước tại Điện Biên.

VWSA nhiệm kỳ VII: Đoàn kết - Đổi mới - Hiệu quả vì sự phát triển bền vững

VWSA nhiệm kỳ VII: Đoàn kết - Đổi mới - Hiệu quả vì sự phát triển bền vững

Với mục tiêu “Đoàn kết - Đổi mới - Hiệu quả vì sự phát triển bền vững ngành Cấp Thoát nước Việt Nam”, trong nhiệm kỳ mới, VWSA tập trung nhiệm vụ bảo đảm cấp nước an toàn, giảm thất thoát, nâng cao hiệu quả quản lý; đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực, hoàn thiện chính sách và mở rộng hợp tác quốc tế.

Bình đẳng giới góp phần nâng cao năng lực thích ứng của doanh nghiệp ngành Nước trong kỷ nguyên mới

Bình đẳng giới góp phần nâng cao năng lực thích ứng của doanh nghiệp ngành Nước trong kỷ nguyên mới

Ngày 17/9, trong khuôn khổ Tuần lễ ngành Nước Việt Nam - Vietnam Water Week 2026, Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA) tổ chức hội thảo “Chỉ số Bình đẳng giới trong các doanh nghiệp ngành Nước" với sự tham gia của đông đảo đại biểu, chuyên gia và lãnh đạo doanh nghiệp trong ngành.

“Đánh thức” dữ liệu: Từ số hóa đến thay đổi phương thức quản trị ngành Nước

“Đánh thức” dữ liệu: Từ số hóa đến thay đổi phương thức quản trị ngành Nước

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đô thị hóa và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ, chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng giúp doanh nghiệp ngành Nước nâng cao năng lực quản trị.

SEAWUN thúc đẩy hợp tác ngành Nước Đông Nam Á

SEAWUN thúc đẩy hợp tác ngành Nước Đông Nam Á

Trong khuôn khổ Tuần lễ ngành Nước Việt Nam 2026, chiều 16/9, Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA) đã tổ chức Cuộc họp bàn tròn SEAWUN nhằm tăng cường kết nối, chia sẻ kinh nghiệm và thúc đẩy hợp tác vì sự phát triển bền vững của ngành Nước ASEAN.

TS. Hạ Thúy Hạnh: “Doanh nghiệp ngành Nước thực hiện tốt bình đẳng giới có thể nâng cao tới 65% hiệu quả vận hành”

TS. Hạ Thúy Hạnh: “Doanh nghiệp ngành Nước thực hiện tốt bình đẳng giới có thể nâng cao tới 65% hiệu quả vận hành”

Bình đẳng giới không chỉ là một trong các mục tiêu phát triển bền vững mà còn là yếu tố quan trọng trong quản trị doanh nghiệp.

Cấp nước Hà Tĩnh hướng tới mô hình doanh nghiệp số toàn diện

Cấp nước Hà Tĩnh hướng tới mô hình doanh nghiệp số toàn diện

Giai đoạn 2024 - 2026, Công ty Cổ phần Cấp nước Hà Tĩnh tiếp tục tạo bước đột phá trong hành trình hiện đại hóa khi lấy công nghệ số làm nền tảng cốt lõi.

Nâng cao chất lượng nước sạch bắt đầu từ quản lý rủi ro

Nâng cao chất lượng nước sạch bắt đầu từ quản lý rủi ro

Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2026/NĐ-CP với các quy định cụ thể hơn về trách nhiệm và chế tài đối với hành vi cung cấp nước không bảo đảm chất lượng. Điều này đã đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với công tác quản lý chất lượng nước sạch.

Top