Nhiệt độ
Internet Vạn Vật giúp giám sát chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản
Áp dụng Internet Vạn Vật vào giám sát chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản, mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, sẽ giúp phát hiện sớm và xử lý hiệu quả các vấn đề môi trường.
Lắp đặt hệ thống giám sát mực nước phục vụ công tác cảnh báo ngập lụt tại khu di tích Phong Nha Kẻ Bàng- Tỉnh Quảng Bình. Nguồn: DLCorp
Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam là mặt hàng mang lại kim ngạch lớn nhất trong ít nhất 5 năm trở lại đây, với doanh số hàng năm trên 8 tỷ USD, theo thống kê của Chính phủ.
Trong giai đoạn 1995-2020 sản lượng nuôi trồng thủy sản cả nước tăng bình quân 10%/năm, dựa trên số liệu của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam.
Năm 2022 ngành đặt mục tiêu sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng khoảng 3% so với năm trước lên 4,95 triệu tấn.
Cùng với sự phát triển đó là ảnh hưởng nặng nề đến môi trường nước, do việc sử dụng hóa chất để cải tạo và xử lý ao đầm, không tuân thủ các quy định về xây dựng, vận hành các công trình xử lý chất thải, cũng như chưa coi trọng việc quan trắc nước thải.
Ở Việt Nam hiện nay, hầu hết các đơn vị quan trắc đều sử dụng phương thức quan trắc truyền thống, đó là đo đạc tại hiện trường các thông số đo nhanh như nhiệt độ, pH, nồng độ oxy hòa tan trong nước (Dissolved Oxygen - DO), độ mặn và lấy mẫu mang về phòng thí nghiệm phân tích các thông số lý - hóa – sinh, theo một nghiên cứu năm 2021 của trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Chi cục Thủy sản Phú Yên.

Sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng đồng nghĩa với áp lực nặng nề đến môi trường nước. Ảnh: minh họa
Nghiên cứu này chỉ ra, với tốc độ NTTS tăng nhanh, mật độ vật nuôi cao, mô hình quan trắc đang áp dụng ở các địa phương bộc lộ nhiều hạn chế, mặc dù cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực quan trắc đã được đầu tư và nâng cấp.
Cụ thể, việc quan trắc vẫn còn thủ công, chưa có hệ thống quan trắc tự động, thiếu phần mềm quản lý, giảm sát tập trung, dẫn đến thiếu cơ chế hợp tác rõ ràng giữa các bên tham gia trong việc lập kế hoạch, tổ chức quan trắc, xử lý số liệu và chia sẻ thông tin.
Do đó, người dân không nắm được thông tin kịp thời để có biện pháp ứng phó, công tác vận hành, bảo trì, duy trì hoạt động các trạm quan trắc tự động cũng gặp nhiều khó khăn, các nhà khoa học nhận định trong nghiên cứu nêu trên.
Trong khi đó, ở nước ngoài, chẳng hạn như ở Na Uy, khi đệ trình dự án, chủ trại cần chứng minh năng lực thực hiện việc quan trắc và xử lý môi trường theo quy định.
Cộng đồng châu Âu (EU) yêu cầu các vùng NTTS xuất khẩu vào thị trường của khối liên minh này phải được quan trắc thường xuyên. Ở Thái Lan, Cục nghề cá quản lý việc quan trắc NTTS và có sự phân cấp hoạt động ở các tỉnh trong cùng một hệ thống quan trắc.
Tại Việt Nam, Kế hoạch quan trắc, cảnh báo và giám sát môi trường trong nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2021-2025 của Tổng cục Thủy sản được phê duyệt ngày 19/3/2021 đã đề cập đến việc “chủ động quan trắc, cảnh báo và giám sát môi trường 100% vùng nuôi trọng điểm”.
Tổng cục Thủy sản đặt mục tiêu từ nay đến 2025 chuyển tải kết quả quan trắc và cảnh báo môi trường nuôi trồng thủy sản đến các cơ quan quản lý, người nuôi và các tổ chức cá nhân liên quan một cách nhanh nhất, cũng như thiết lập được cơ sở dữ liệu về quan trắc môi trường thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Ứng dụng Internet Vạn Vật
Để đáp ứng được yêu cầu này, cần áp dụng giải pháp quan trắc nước thải trong NTTS, trong đó có ứng dụng công nghệ Internet Vạn Vật (Internet of Things – IoT) tại các trạm quan trắc nước tự động.
Mô hình áp dụng IoT trong quan trắc nước khá đơn giản: Dữ liệu đầu vào được truyền đến nền tảng phần mềm qua Wifi, 3G hoặc 4G từ các trạm quan trắc chất lượng nước tự động và các thiết bị điều khiển, cảnh báo, sau đó sẽ được chuyển đến các ứng dụng vận hành, giám sát có trên web và điện thoại.
IoT cho phép đo lường định kỳ và tự động liên tục theo thời gian thực, giúp ghi nhận, phân tích và đánh giá và cảnh báo thông tin ô nhiễm môi trường một cách nhanh chóng để có những biện pháp kịp thời cũng như dài hạn.
Hiện công nghệ IoT đang được áp dụng hiệu quả với các trạm quan trắc chất lượng nước mặt tự động, nhằm theo dõi và khai thác các chỉ số quan trọng được quy định trong quyết định số 1151/QĐ-BNN-TCTS, bao gồm nhiệt độ, pH, tổng lượng chất rắn lơ lửng trong nước (Total Suspended Solids - TSS), độ dẫn điện (Electric Conduction – EC), COD, ORP cùng các chỉ số NH4, kim loại nặng (asen, chì, v.v.).
Ngoài ra, IoT còn được áp dụng tại các trạm đo mực nước, độ mặn tự động ở cửa cống, trạm bơm cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp giúp điều tiết hoạt động cấp nước, ngăn chặn xâm nhập mặn.

Một nhân viên đang kiểm tra hệ thống giám sát mực nước phục vụ công tác cảnh báo ngập lụt tại khu di tích Phong Nha Kẻ Bàng. Nguồn: DLCorp
Nền tảng phần mềm trong IoT có chức năng chính là tiếp nhận, lưu trữ, khai thác dữ liệu quan trắc để đưa ra cảnh báo và quản lý điểm quan trắc tự động.
Nhờ có nền tảng này, người dùng có thể thống kê nhanh được số lượng các trạm, trạng thái trạm, thông tin và lịch sử dữ liệu. Đơn vị quản lý có thể quản lý trạm theo trường thông tin, trạng thái điểm đo, đồng thời có thể sử dụng chức năng phân quyền để tạo không gian khai thác phù hợp với chức năng của các đơn vị khác nhau.
Việc theo dõi và lọc dữ liệu cũng trở nên đơn giản khi sử dụng nền tảng phần mềm quản lý tập trung. Người sử dụng có thể dễ dàng kiểm tra mất dữ liệu, kiểm tra vượt ngưỡng; xem, lọc, tìm kiếm các thông báo và lịch sử thông báo.
Khi xảy ra sự cố, phần mềm sẽ ngay lập tức gửi cảnh báo qua ứng dụng, email, tin nhắn, v.v., giúp thông tin sớm, kịp thời tới người dân và chính quyền.

Hệ thống cảnh báo sớm ngập mặn áp dụng công nghệ IoT tại Vĩnh Long. Nguồn: DLcorp
Đặc biệt, nền tảng phần mềm quản lý tập trung còn hỗ trợ đắc lực cho việc khai thác dữ liệu phục vụ nghiên cứu, báo cáo. Người dùng có thể xuất dữ liệu ra nhiều loại tệp, sử dụng chức năng biểu đồ để hiển thị lịch sử dữ liệu hoặc so sánh giữa các trạm đo.
Ngoài ra, nền tảng phần mềm quản lý tập trung luôn được thiết kế có tính mở và sẵn sàng các giao thức kết nối (API), truy xuất dữ liệu sang các phần mềm bên thứ 3 hoặc các mô hình dự báo, giúp cho việc khai thác dữ liệu được hiệu quả hơn.
Theo ông Hoàng Dũng, CEO của DLCorp, một trong các đơn vị sở hữu nhiều sản phẩm IoT phục vụ quan trắc nước tự động ở Việt Nam, việc áp dụng IoT trong ngành nuôi trồng thủy sản sẽ giúp chính quyền chủ động tạo lập được một mạng lưới điểm đo đủ dày để tạo ra bộ cơ sở dữ liệu môi trường đáng tin cậy, đồng thời dựa trên thông tin thu thập được, có thể xây dựng chính sách, quy hoạch, lựa chọn sản phẩm nuôi trồng phù hợp.
Người dân có thể tiếp cận thông tin về môi trường kịp thời, chủ động trong hoạt động sản xuất, ứng phó kịp thời khi có diễn biến xấu, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.
Đối với các bên liên quan, công nghệ này có thể cung cấp dữ liệu phục vụ nghiên cứu cho các cơ sở nghiên cứu, trường đại học; chia sẻ dữ liệu với các cơ quan ban ngành khác.
Công nghệ IoT hiện có một nhược điểm là khi một mạng lưới thiết bị IOT đủ lớn được đưa vào ứng dụng sẽ đòi hỏi một hạ tầng mạng viễn thông đủ mạnh để có thể truyền tải khối lượng dữ liệu khổng lồ.
Chi phí duy trì đường truyền Internet cũng là một trong các yếu tố được nhiều nhà đầu tư cân nhắc. Tuy nhiên với tốc độ phát triển của công nghệ hiện nay, khi mà Việt Nam đang tiến tới công nghệ 5G, NB-IOT, chắc chắn những vấn đề này sẽ được xử lý trong tầm tay.
Trường Đại học Xây dựng Hà Nội tổ chức Lễ trao bằng tốt nghiệp lớp K60 Cấp Thoát nước Bình Dương
Bắc Ninh: Nước sạch là nền tảng chất lượng sống và phát triển nông thôn mới
Đọc thêm
Hoàn thiện cơ chế định giá nước sạch theo phương pháp định giá chung
Thông tư số 145/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn áp dụng phương pháp định giá chung đối với nước sạch đã làm rõ nguyên tắc xác định giá thành lợi nhuận và giá bán. Cách tiếp cận này tạo sự thống nhất trong xây dựng thẩm định và điều hành giá nước sạch theo Luật Giá năm 2023 và định hướng phát triển bền vững ngành Cấp Thoát nước.
Cấp nước an toàn trước yêu cầu đổi mới tư duy quản lý và điều phối
Bảo đảm cấp nước an toàn và chống thất thoát, thất thu nước sạch không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà đã trở thành yêu cầu quản trị tổng hợp, đòi hỏi cơ chế pháp lý rõ ràng, sự vào cuộc của chính quyền và cách tiếp cận mới về nguồn nước, khu vực nông thôn và quản lý số.
Đồng Nai nâng chuẩn nước sạch nông thôn
Trong tiến trình xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển bền vững, Đồng Nai xác định nước sạch là hạ tầng nền tảng, tác động trực tiếp đến sức khỏe và chất lượng sống. Trên cơ sở nghị quyết của Đảng bộ tỉnh và chính sách của Chính phủ, địa phương đẩy mạnh đầu tư, đồng thời hoàn thiện cơ chế quản lý, vận hành bền vững.
Quy hoạch hai bên sông Tô Lịch: Giải quyết căn bản bài toán môi trường nước
Sáng 30/12/2025, Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội phối hợp với Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội tổ chức Hội nghị công bố hai đồ án Quy hoạch chi tiết hai bên bờ tuyến sông Tô Lịch, tỷ lệ 1/500 (đoạn 1 và đoạn 2).
Phát thải khí nhà kính trong hệ thống cấp nước Đồng bằng Sông Cửu Long
Để xác định nguồn phát thải khí nhà kính từ hệ thống cấp nước, nghiên cứu thu thập, tổng hợp, phân tích dữ liệu của các đơn vị cấp nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long sau đó tính toán lượng phát thải khí nhà kính và phân tích tiềm năng ứng dụng điện mặt trời cho một trường hợp cụ thể.
Công nghệ Cấp nước mới và ứng dụng ở Việt Nam
Bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu của chính tác giả, rà soát các công nghệ Cấp thoát nước mới đã được áp dụng thực tiễn ở Việt Nam và trên thế giới, cũng như tổng hợp các công bố quốc tế và trong nước trong thời gian 10 năm vừa qua.
Bể ngầm lắp ghép: Hướng tiếp cận linh hoạt nhằm giảm thiểu ngập úng đô thị
Trước yêu cầu kiểm soát ngập úng đô thị, bên cạnh các giải pháp mang tính dài hạn, các cơ quan chuyên môn, nhà khoa học và doanh nghiệp đang nghiên cứu, đề xuất nhiều giải pháp thoát nước linh hoạt. Trong đó, mô hình bể ngầm lắp ghép được xem như một cấu phần bổ trợ, góp phần giảm thiểu áp lực cho hệ thống thoát nước đô thị.
Quản lý vận hành hệ thống thoát nước đô thị Hải Phòng: Thực trạng, khó khăn và kiến nghị
Tác động của quá trình đô thị hóa nhanh, biến đổi khí hậu kéo theo tình trạng ngập úng tại đô thị Hải Phòng đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý, vận hành hệ thống thoát nước, đòi hỏi giải pháp đồng bộ, phù hợp với thực tiễn.
TP. Huế khoanh vùng hạn chế khai thác nước dưới đất để bảo vệ tài nguyên
UBND TP. Huế vừa phê duyệt danh mục và bản đồ phân vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất nhằm kiểm soát sụt lún, xâm nhập mặn và suy giảm nguồn nước ngầm. Đây là cơ sở quan trọng để quản lý, cấp phép và sử dụng bền vững tài nguyên nước đô thị.