Nhiệt độ
Đánh giá khả năng dễ bị tổn thương tài nguyên nước lưu vực sông Ba*
Nghiên cứu đánh giá chỉ số dễ bị tổn thương tài nguyên nước (VI) trên lưu vực sông Ba nhằm đề xuất các giải pháp đảm bảo an ninh nguồn nước, đặc biệt là nước sinh hoạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH).
* ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG BA DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TÍCH HỢP CÁC YẾU TỐ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀO KHAI THÁC, SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
Tóm tắt: Nghiên cứu đánh giá chỉ số dễ bị tổn thương tài nguyên nước (VI) trên lưu vực sông Ba nhằm đề xuất các giải pháp đảm bảo an ninh nguồn nước, đặc biệt là nước sinh hoạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH). Kết quả cho thấy, năm 2024, chỉ số VI ở mức cao (0,586), dự báo tăng lên 0,701 vào năm 2030 và 0,719 dưới tác động của BĐKH. Tuy nhiên, nếu tích hợp các giải pháp thích ứng, chỉ số này giảm còn 0,345. Các nguyên nhân chính gây tổn thương là khai thác thiếu bền vững, phân bố nguồn nước không hợp lý và năng lực quản lý yếu. Nghiên cứu khẳng định sự cần thiết của việc tích hợp BĐKH vào công tác quy hoạch và quản lý tài nguyên nước.
Từ khoá: Lưu vực sông Ba; Đánh giá tổn thương; Biến đổi khí hậu
ASSESSING THE VULNERABILITY OF WATER RESOURCES IN THE BA RIVER BASIN UNDER THE IMPACTS OF CLIMATE CHANGE AND THE NEED TO INTEGRATE CLIMATE CHANGE FACTORS INTO THE EXPLOITATION, UTILIZATION, AND MANAGEMENT OF WATER RESOURCES
Abstract: The study assesses the Water Resource Vulnerability Index (VI) of the Ba River Basin to propose solutions for ensuring water security, particularly for domestic use, in the context of climate change. Results show that in 2024, the VI is at a high level (0.586), and it is projected to increase to 0.701 by 2030 and 0.719 under the impact of climate change. However, if adaptive measures are integrated, the index could be reduced to 0.345. The main causes of vulnerability include unsustainable exploitation, uneven water distribution, and weak management capacity. The study emphasizes the necessity of incorporating climate change into water resource planning and management.
Keywords: Ba River Basin; Climate Change; Vulnerability Assessment.
1. Mở đầu
Nước là tài nguyên thiết yếu, giữ vai trò nền tảng cho sự sống, phát triển kinh tế – xã hội và duy trì cân bằng hệ sinh thái. Tài nguyên nước (TNN) có mối liên hệ chặt chẽ với đất, sinh vật và khí hậu, nên cần được quản lý theo hướng tổng hợp nhằm sử dụng hiệu quả và bảo vệ bền vững các tài nguyên liên quan.
Những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa, gia tăng dân số và chuyển dịch cơ cấu sản xuất đã làm gia tăng áp lực lên tài nguyên nước, trong khi biến đổi khí hậu (BĐKH) ngày càng diễn biến phức tạp. Tình trạng thiếu nước, khan hiếm cục bộ và ô nhiễm đang trở nên phổ biến, đòi hỏi đổi mới tư duy và phương pháp quản lý TNN theo hướng tích hợp, thích ứng.
Một công cụ hỗ trợ hiệu quả trong hoạch định chính sách là đánh giá chỉ số dễ bị tổn thương tài nguyên nước (Vulnerability Index – VI). Đây là đại lượng tổng hợp phản ánh mức độ nhạy cảm của hệ thống TNN trước các tác động từ môi trường, khí hậu và con người, giúp xác định rủi ro và là cơ sở khoa học quan trọng trong quy hoạch, xây dựng chiến lược thích ứng, nâng cao hiệu quả sử dụng nước và phát triển bền vững lưu vực sông.
2. Vật liệu và Phương pháp nghiên cứu
2.1 Khung lý thuyết tác động đến tài nguyên nước
Tình trạng dễ bị tổn thương của tài nguyên nước lưu vực sông được xác định từ những nhân tố tác động đến tài nguyên nước như sau:

Hình 1. Các thành phần và chỉ số tác động đến tài nguyên nước [5]
Các nhân tố tác động đến tài nguyên nước có thể được phân chia gồm: Sức ép của nguồn nước (resource stresses); Sức ép khai thác, sử dụng nước (development pressures); Sức ép của hệ sinh thái (ecological insecurities); Sức ép của công tác quản lý (management challenges).
Tác động của các nhóm nhân tố này có thể dẫn đến tình trạng khan hiếm, biến động và suy giảm tính bền vững của tài nguyên nước. Do đó, mỗi nhóm sức ép có thể được biểu diễn thông qua một hệ thống thông số đặc trưng, được xác định cụ thể gồm: (1) Thông số sức ép nguồn nước (RS); (2) Thông số sức ép khai thác, sử dụng nước (DP); (3) Thông số sức ép hệ sinh thái (EH); (4) Thông số quản lý (MC).
2.2 Chỉ số dễ bị tổn thương tài nguyên nước (Vulnerability Index – VI)
Chỉ số VI được xác định như sau:
VI = f (RS, DP, EH, MC) = (mRS RS + mDP DP + mEH EH + mMC MC) (2.1)
Trong đó: mRS, mDP, mEH, mMC là các trọng số (mRS + mDP + mEH + mMC = 1)
Với RS, DP, EH, MC được xác định như sau:
RS = ms RSs + mv RSv (2.2)
Trong đó: ms, mv là các trọng số (ms + mv = 1); các thông số của DP, EH và MC cũng được xác định tương tự.
Từ chỉ số khả năng dễ bị tổn thương tài nguyên nước, dựa vào bảng phân cấp (Bảng 1) để đánh giá thực trạng TNN cũng như công tác quản lý trên khu vực nghiên cứu.
Bảng 1. Chỉ số khả năng dễ bị tổn thương của TNN trên lưu vực sông [8]
| Chỉ số khả năng dễ bị tổn thương | Diễn giải |
|---|---|
Thấp (0,0 - 0,2) | TNN lưu vực phát triển bền vững. Các mặt hệ sinh thái và năng lực quản lý tốt. |
Trung bình (0,2 - 0,4) | Lưu vực só điều kiện tốt để quản lý bền vững TNN xong vẫn phải đối mặt với sức ép về kỹ thuật cũng như chính sách quản lý. Vì vậy buộc phải xây dựng chính sách quản lý mới để phù hợp với thách thức sử dụng TNN. |
Cao (0,4 - 0,7) | Lưu vực chịu sức ép cao cần thiết phải có sự đầu tư kỹ thuật cũng như cải cách trong quản lý tổng hợp, tạo điều kiện nâng cao dân trí cộng đồng để có cơ hội hành động nhất quán đối phó với các thách thức đặt ra. |
Rất xấu (0,7 - 1,0) | Lưu vực đang bị suy thoái nghiêm trọng về tất cả các mặt TNN, về trang bị kỹ thuật cũng như hệ thống quản lý. Không thể thiếu sự hợp tác giữa nhân dân và nhà nước. Cần một quá trình lâu dài để tái thiết lập lại sự ổn định của lưu vực với cấp độ có tham vấn của nhà nước và các tổ chức quốc tế. |
2.3 Thông số chi tiết của các nhóm sức ép
a. Thông số sức ép nguồn nước (RS): Phản ánh mức độ tổn thương TNN do đặc điểm tự nhiên của nguồn nước trên lưu vực, bao gồm hai yếu tố chính:
Hệ số khan hiếm nước (RSS): là chỉ tiêu thể hiện mức độ dồi dào hay hạn chế của nguồn nước theo đầu người trên một lưu vực, được xác định theo công thức:

Trong đó: R: Lượng nước trung bình đầu người trên lưu vực (m³/người/năm) 1700: Ngưỡng khan hiếm theo chỉ báo Falkenmark
Hệ số biến động nguồn nước (RSv): Dùng để lượng hóa sự không ổn định của nguồn nước trên lưu vực, thể hiện qua hệ số biến động dòng chảy năm (Cv) và được chuẩn hóa theo công thức:

Trong đó: Cv: Hệ số biến động dòng chảy năm 0,3: Ngưỡng chuẩn phản ảnh mức biến động trung bình của dòng chảy.
b. Thông số sức ép khai thác, sử dụng nước (DP): Thể hiện mức độ tổn thương TNN do các hoạt động khai thác và sử dụng, đặc biệt là mức độ mất cân đối giữa nhu cầu và khả năng cung cấp nước, cũng như khả năng người dân được tiếp cận nguồn nước sạch.
Hệ số sức ép nguồn nước (DPe): Là tỷ lệ tổng nhu cầu sử dụng nước trong một khu vực với tổng lượng nước mặt và nước ngầm có thể khai thác được từ nguồn tự nhiên trong cùng thời kỳ. Chỉ số này phản ánh mức độ khai thác so với khả năng tái tạo của nguồn nước. Công thức tính:

Trong đó: WRs: Tổng nhu cầu nước cho tất cả các ngành trên toàn lưu vực (LV) (m3/năm) WR: Tổng lượng nước tự nhiên có thể khai thác được trên toàn LV (m3/năm).
Hệ số tiếp nhận nguồn nước sạch (DPd): Hệ số này phản ánh mức độ thiếu hụt dịch vụ cấp nước sạch, là tỷ lệ phần trăm giữa số dân không có khả năng tiếp nhận nguồn nước sạch và tổng dân số toàn lưu vực, Công thức tính:

Trong đó: Pd: Tổng số dân không có khả năng tiếp nhận nguồn nước sạch (người); P: Tổng số dân toàn lưu vực (người).
c. Thông số sức ép hệ sinh thái (EH): Sức ép hệ sinh thái có ảnh hưởng lớn đến tính dễ bị tổn thương của TNN trên lưu vực. Thông số này được lượng hóa thông qua hai hệ số:
Hệ số ô nhiễm nguồn nước (EHp): Là tỷ lệ giữa tổng lượng nước thải chưa xử lý và 15% tổng lượng nước tự nhiên trên lưu vực. Chỉ số này đánh giá nguy cơ suy giảm chất lượng nước và ảnh hưởng đến sức khỏe hệ sinh thái thủy vực. Công thức tính:

Trong đó: WW: Tổng lượng nước thải chưa xử lý thải vào nguồn nước trên toàn LV (m³); WR: Tổng lượng nước tự nhiên trên toàn LV (m³).
Hệ số suy giảm hệ sinh thái (EHe): Là tỷ lệ phần trăm giữa diện tích đất không được che phủ bởi rừng, cây trồng hoặc mặt nước so với tổng diện tích toàn lưu vực.
Công thức tính:

Trong đó: Ad: Diện tích không được che phủ bởi rừng, cây trồng hoặc mặt nước (ha); A: Tổng diện tích toàn lưu vực (ha).
d. Thông số quản lý (MC): Thông số này phản ánh mức độ dễ bị tổn thương của TNN dưới góc độ quản trị và thể chế, được xác định bởi 3 hệ số đại diện cho mỗi tiêu chuẩn như sau:
Hệ số hiệu quả sử dụng nguồn nước (MCe): Thông số này được mô tả bởi tỷ số giữa giá trị GDP từ một m3 nước của lưu vực với giá trị trung bình của các quốc gia điển hình trên thế giới.

Trong đó: WE: giá trị GDP từ một m3nước của lưu vực (USD) WEwm: giá trị GDP từ một m3 nước trung bình thế giới (USD).
Hệ số khả năng tiếp nhận vệ sinh môi trường (MCs): Là tỷ lệ số dân không có khả năng tiếp nhận vệ sinh môi trường với tổng số dân toàn lưu vực:

Trong đó: PS: Tổng số dân không được tiếp nhận vệ sinh môi trường (người) P: Tổng số dân toàn lưu vực (người).
Hệ số năng lực quản lý (MCc): Năng lực quản lý TNN của một lưu vực sông sẽ tác động không nhỏ đến tính bền vững của TNN, mực dù chưa có cơ sở khoa học để xác định nó một cách chính xác, nhưng không thể bỏ qua thông số này.
Bảng 2. Bảng tổng hợp các thông số đánh giá năng lực quản lý [8]

3. Kết quả và thảo luận
a. Thông số sức ép nguồn nước (RS)
Hệ số khan hiếm nước (RSS): Hàng năm trên toàn lưu vực sông (LVS) Ba nhận được lượng mưa khoảng 1.740 mm với mô đun dòng chảy đạt 22,8 l/s.km2, lượng nước đổ ra biển Đông gần 10 tỷ m3 nước [5], [6]. Lưu vực có mật độ dân số không cao, nên mức đảm bảo cho một người dân vào các năm 2024, 2030 lần lượt khoảng 5.782 và 5.364m3/người.năm. Như vậy, so với mức đảm bảo nước cho một người trên thế giới 1.700 m3/người.năm [9] và ở Việt Nam là 3.847 m3/người.năm [7], có thể thấy xét về tổng lượng dòng chảy năm ở các phương án thì LVS Ba không bị khan hiếm nước. Như vậy: RSS = 0.
Tuy nhiên, lượng nước trên LVS Ba thay đổi rất lớn theo không gian và thời gian, Kết quả tính toán trình bày tại Bảng 3
Bảng 3. Hệ số khan hiếm nước RSS

Hệ số biến động nguồn nước (RSv): Xét chuỗi số liệu dòng chảy từ 1978 – 1995 trên LVS Ba xác định được hệ số biến đổi dòng chảy năm Cv của các trạm dao động khá lớn từ 0,18 tại trạm Pơ Mơ Rê, đến 0,35 tại trạm M'Đrak. Như vậy nếu tính toàn LVS Ba có thể lấy giá trị Cv tại trạm Củng Sơn với giá trị là 0,3. Như vậy: RSv=1.
b. Thông số sức ép khai thác, sử dụng nước (DP)
Hệ số sức ép nguồn nước (DPe)
Bảng 4. Hệ số sức ép nguồn nước DPe

Hệ số tiếp nhận nguồn nước sạch (DPd): Dựa trên số liệu điều tra khảo sát và mục tiêu trong chương trình nước sạch nông thôn của các tỉnh trên lưu vực, tỉ lệ dân số sử dụng nước sạch trên LVS Ba năm 2024, 2030, tương lai có BĐKH nhưng đã tích hợp được trình bày tại Bảng 5 (Trong đó, phương án tương lai có BĐKH nhưng đã tích hợp vơi giả định phát triển tích cực, tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch được xác định là đạt 100%).
Bảng 5. Hệ số tiếp nhận nguồn nước sạch DPd

c. Thông số sức ép hệ sinh thái (EH)
Hệ số ô nhiễm nguồn nước (EHp): Số liệu về tổng lượng nước thải trên toàn lưu vực rất khó thu thập hay đo đạc được, vì vậy giả thiết rằng 30% lượng nước dùng cho nông nghiệp và 80% lượng nước dùng cho sinh hoạt và công nghiệp sẽ trở thành lượng nước thải trên lưu vực. Do đó có thể ước tính lượng thải trên toàn lưu vực như sau:
Bảng 6. Hệ số ô nhiễm nguồn nước EHp

Hệ số suy giảm hệ sinh thái (EHe): Từ số liệu thống kê về bản đồ hiện trạng sử dụng đất, từ bản đồ quy hoạch sử dụng đất trên lưu vực có thể xác định được hệ số suy giảm hệ sinh thái của LVS Ba phương án hiện trạng (2024) và 2030 lần lượt là EHe = 0,1068 và 0,1257. Với phương án tương lai có xét đến biến đổi khí hậu hệ số EHe không đổi so với phương án 2030 và tương lai có biến đổi khí hậu nhưng đã tích hợp, không còn đất trống trên toàn lưu vực nên EHe=0.
d. Thông số quản lý (MC)
Hệ số hiệu quả sử dụng nguồn nước (MCe): GDP trung bình hàng năm đều tăng nhưng mức tăng trưởng GDP của các địa phương trên LVS Ba đạt thấp hơn mức tăng của toàn quốc.
Bảng 7. GDP bình quân đầu người (USD/năm)

(Nguồn: Niên giám thống kê và QH tổng thể phát triển KTXH đến năm 2030 các tỉnh trên lưu vực)
So với hiệu quả sử dụng nước trung bình trên thế giới hệ số hiệu quả sử dụng nguồn nước trong toàn lưu vực được xác định như sau:
Bảng 8. Hệ số sử dụng hiệu quả nguồn nước MCe

Hệ số khả năng tiếp nhận vệ sinh môi trường (MCs): Theo số liệu thống kê số dân có khả năng tiếp cận vệ sinh môi trường các địa phương trên LVS Ba như sau:
Bảng 9. Hệ số khả năng tiếp nhận vệ sinh môi trường MCs

Hệ số năng lực quản lý (MCc): Hiện tại tên LVS Ba chưa có quy hoạch nào được phê duyệt theo hướng quản lý tổng hợp TNN, quy hoạch còn mang tính đơn ngành, chưa thực hiện quản lý theo lưu vực, chưa có sự tham gia của người sử dụng nước trong việc hoạch định chiến lược quản lý, đến năm 2030 xem như quản lý tổng hợp TNN vẫn chưa được thực hiện, quản lý tổng hợp TNN và thực thi đầy đủ khi đã tích hợp biến đổi khí hậu. Hệ số đánh giá năng lực quản lý LVS Ba trong các thời kỳ tính toán được trình bày tại Bảng 10.
Bảng 10. Hệ số đánh giá năng lực quản lý LVS Ba

e. Chỉ số dễ bị tổn thương tài nguyên nước lưu vực sông Ba:
Giá trị trọng số của các hệ số và thông số được xác định dựa trên phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng quản lý TNN của lưu vực đó [3], được trình bày tại Bảng 11.
Bảng 11. Chỉ số dễ bị tổn thương tài nguyên nước lưu vực sông Ba

4. Kết luận
Kết quả tính toán cho thấy: Năm 2024 chỉ số dễ bị tổn thương TNN (VI) của LVS Ba ở mức khá cao (0,586). Theo khung phân tích, lưu vực có điều kiện tương đối thuận lợi để phát triển bền vững nguồn nước. Tuy nhiên, TNN đang đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là yếu kém về năng lực quản lý. Dự báo đến năm 2030, chỉ số VI có xu hướng tăng mạnh trong các kịch bản 2030: 0,701 (phát triển), 0,719 (có BĐKH) và giảm xuống 0,345 khi tích hợp các biện pháp thích ứng. Điều này phản ánh nguy cơ mất cân bằng và thiếu bền vững do khai thác thiếu hợp lý và quản lý kém hiệu quả. Dù còn một số hạn chế trong cách tính toán, kết quả cho thấy năng lực quản lý TNN trên LVS Ba còn yếu, cơ chế điều hành chưa phù hợp là nguyên nhân chính đe dọa đến sự bền vững của TNN trên lưu vực.
Để quản lý hiệu quả và bền vững TNN trên LVS Ba, cần sớm xây dựng kế hoạch tổng thể quản lý TNN; đồng thời ban hành chính sách nâng cao năng lực quản lý hiện hữu, chú trọng tích hợp các yếu tố BĐKH và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Việc tích hợp BĐKH vào khai thác, sử dụng và quản lý TNN là yêu cầu cấp thiết nhằm giảm thiểu nguy cơ mất an toàn trong cấp nước trong mùa khô và các thời kỳ thời tiết cực đoan.
Tài liệu tham khảo
[1] Viện Quy hoạch thuỷ lợi - Bộ Nông nghiệp & PTN (2006), Báo cáo quy hoạch phát triển thủy lợi lưu vực Sông Ba.
[2] Viện Quy hoạch thuỷ lợi - Bộ Nông nghiệp & PTN (2008), Báo cáo rà soát quy hoạch thuỷ lợi toàn quốc.
[3] Huỳnh Thị Lan Hương (2009) – Nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Lô. Luận án Tiến sĩ – Viện KH KTTVMT.
[4] Nguyễn Văn Cư (2003) - Nghiên cứu luận cứ khoa học cho các giải pháp phòng tránh, hạn chế hậu quả lũ lụt lưu vực sông Ba – Đề tài nghiên cứu độc lập cấp nhà nước, viện địa lý.
[5] Thủ Tướng Chính phủ (2010), Quyết định số 1989/QĐ-TTg ngày 1/11/2010 về việc ban hành danh mục sông liên tỉnh.
[6] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Quyết định số 341/QĐ-BTNMT về việc ban hành danh mục sông nội tỉnh.
[7] Bộ Tài nguyên và Môi trường. (2021). Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2021: Chuyên đề môi trường nước. Hà Nội: Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam.
[8] Asian Institute of Technology, Thailand – United Nations Environment Program (2009) - Vulnerability Assessment of Freshwater Resources – freshwater under threat South east Asia.
[9] Falkenmark, M. (1989). The massive water scarcity now threatening Africa: why isn't it being addressed? Ambio, 18(2), 112–118.
Tác giả: TS. Lê Đức Thường
Trường ĐHXD Miền Trung
Đọc thêm
Trường Đại học Xây dựng Hà Nội tổ chức Lễ trao bằng tốt nghiệp lớp K60 Cấp Thoát nước Bình Dương
Sáng 03/01/2026, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội (HUCE) tổ chức Lễ trao bằng tốt nghiệp cho sinh viên lớp K60NCBD bậc Kỹ sư ngành Kỹ thuật Cấp thoát nước. Sự kiện không chỉ đánh dấu cột mốc trưởng thành của các tân kỹ sư, mà còn khẳng định hiệu quả mô hình hợp tác đào tạo giữa cơ sở giáo dục và doanh nghiệp ngành Nước.
Phát thải khí nhà kính trong hệ thống cấp nước Đồng bằng Sông Cửu Long
Để xác định nguồn phát thải khí nhà kính từ hệ thống cấp nước, nghiên cứu thu thập, tổng hợp, phân tích dữ liệu của các đơn vị cấp nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long sau đó tính toán lượng phát thải khí nhà kính và phân tích tiềm năng ứng dụng điện mặt trời cho một trường hợp cụ thể.
Công nghệ Cấp nước mới và ứng dụng ở Việt Nam
Bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu của chính tác giả, rà soát các công nghệ Cấp thoát nước mới đã được áp dụng thực tiễn ở Việt Nam và trên thế giới, cũng như tổng hợp các công bố quốc tế và trong nước trong thời gian 10 năm vừa qua.
“Công nghệ AI trong ngành Nước" - Từ quản trị phản ứng sang quản trị chủ động
Trong khuôn khổ Hội nghị thường niên Chi hội Cấp Thoát nước miền Nam 2025, diễn ra tại Vũng Tàu, hội thảo chuyên đề “công nghệ AI trong ngành nước - quản trị, giám sát, điều khiển” đã được tổ chức với sự tham dự của các chuyên gia, nhà khoa học, lãnh đạo, kỹ sư, nhân viên trực tiếp vận hành tại đơn vị .
AquaTech và bài toán kiểm soát chất lượng nước trong nuôi tôm ĐBSCL
Đoạt Giải Nhất Lobal Youth Summit 2025, mô hình AquaTech không chỉ là thành tích nổi bật của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh mà còn mở ra một hướng tiếp cận mới cho nuôi tôm bền vững. Giá trị cốt lõi của giải pháp nằm ở kiểm soát chất lượng nước bằng công nghệ tuần hoàn và dữ liệu.
4 công trình khoa học được vinh danh tại VINFUTURE 2025
Bốn công trình khoa học công nghệ xuất sắc được vinh danh tại VinFuture 2025 đã khẳng định nhất quán chủ điểm năm nay là “Cùng vươn mình – Cùng thịnh vượng”, thể hiện vai trò hợp tác khoa học xuyên biên giới để cùng giải quyết các thách thức toàn cầu về y tế, môi trường và sinh kế cho nhân loại.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hệ thống cấp nước tại Việt Nam: Cơ hội và thách thức
Bài viết giới thiệu tổng quan về các kỹ thuật AI phổ biến đã được thực hiện trong các tác vụ khác nhau và tiềm năng ứng dụng trong quản lý nguồn nước cấp tại Việt Nam, cũng như thảo luận về những thách thức và giải pháp để triển khai công nghệ này một cách hiệu quả.
Bổ cập nước cho Hồ Tây từ nguồn Nhà máy Xử lý nước thải Hồ Tây qua bãi lọc ngập nước
Qua nhiều năm, chất lượng nước Hồ Tây có dấu hiệu suy giảm, một số chỉ số môi trường vượt giới hạn cho phép, đặc biệt trong mùa khô. Do đó, nhu cầu bổ cập nước cho Hồ Tây vào mùa khô nhằm cải thiện chất lượng nước là cần thiết và cấp bách.
Ngành Kỹ thuật Cấp thoát nước Trường Đại học Xây dựng Hà Nội: Đồ án tốt nghiệp gắn với thực tiễn
Trong hai ngày 23 và 24/11/2025, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội (ĐHXDHN) phối hợp với Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương và Công ty CP - Tổng công ty Nước - Môi trường Bình Dương (BIWASE) đã tổ chức thành công Lễ bảo vệ đồ án tốt nghiệp cho 39 sinh viên ngành Kỹ thuật Cấp thoát nước.