Nhiệt độ
Phương thức khai thác nước ngầm của người Chăm
Miền Trung không được thiên nhiên ưu đãi. Khí hậu nóng khô, địa hình dốc từ Tây sang Đông khiến các sông đều ngắn và cạn nước vào mùa khô, nên để tồn tại được, cư dân Chăm Pa xưa kia đã buộc phải biết làm thủy lợi, tìm nguồn nước ngầm.
Về thủy lợi, đến nay ở miền Trung có hai đập nước quan trọng là Nha Trinh nằm trên sông Cái Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận, và Đồng Cam tại sông Ba, tỉnh Phú Yên. Đập Nha Trinh (tương truyền là công trình do vua Chăm Pa Po Klaong Garai xây dựng từ thế kỷ XIII) từng bị coi là lạc hậu, nhưng đập mới xây bằng kỹ thuật hiện đại đã bục vỡ chỉ sau một mùa mưa lũ nên cuối cùng phải sử dụng lại đập nước cũ có tu bổ thêm.
Đập Đồng Cam do các kỹ sư Pháp xây dựng, nhưng trong diễn văn khánh thành đập này vào ngày 7/9/1932, của Toàn quyền Đông Dương Pièrre Pasquier có viết: “Nous reprenions, avec une technique scientifique, la conception des Chams, ces merveilleux agriculteurs, qui surent, avec ingéniosité et par des moyens qui forcent notre admiration, conduire et discipliner l’eau”.
(Tạm dịch: Chúng ta đã tiếp thu, bằng một kỹ thuật mang tính khoa học, quan niệm của người Chăm, những người nông dân tuyệt vời và là những người biết cách, với sự khéo léo và bằng những phương tiện khiến chúng ta phải ngưỡng mộ, dẫn dắt và thuần hóa nước.)

Giếng Bà tại Hảo Sơn, Gio An, Gio Linh, Quảng Trị
Tuy nhiên, ở đây chúng tôi muốn đề cập đến kiến thức của người Chăm về nước ngầm. Giữa những cồn cát cao như núi, ngay sát mép biển, trên các đảo ven bờ xung quanh là nước mặn… họ vẫn tìm được mạch nước ngầm. Tại đảo Phú Quý (Bình Thuận), khảo cổ học từng phát hiện 10 giếng Chăm cổ. Trên đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) hiện cũng còn hàng chục giếng cổ. Nổi tiếng nhất trong số đó là giếng có tên Xó La (không có nghĩa trong tiếng Việt). Từng là nguồn cung cấp nước ngọt cho một nửa dân cư của đảo, giếng có tâm chỉ cách mép nước biển 22 m, nhưng nước chưa bao giờ bị nhiễm mặn.
Người Chăm còn có tài tìm mạch nước ngầm vô cùng chính xác: Tại góc Đông Bắc thành cổ Thuận Châu ở làng Vệ Nghĩa, huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị hiện còn một giếng Chăm cổ, nước luôn đầy, rất trong, rất ngọt. Do ‘quá tải dân số’, người dân phải đào thêm một giếng nữa cách cách giếng cổ chỉ khoảng 1,5 m, nhưng nước chua phèn không dùng được.
Lòng các giếng Chăm cổ không quá sâu, thường 2,5-3 m kể từ mặt đất (không tính các lớp xây xếp trên mặt đất) đã tới mặt nước. Điều này cho thấy nước ngầm ở đó rất dồi dào, và đây cũng chính là đặc điểm của giếng Chăm cổ: không bao giờ cạn nước. Mạch nước ngầm mạnh đến mức, ngay sau khi lũ ngập rút đi đã có thể lấy nước sử dụng bình thường.
Người Chăm xưa kia sử dụng những nguồn mạch nước ngọt lành ấy không chỉ để tồn tại, mà còn phát triển nông nghiệp ở ngay vùng khô hạn cát nhiều hơn đất.
Trước đây, một số học giả Pháp đã quan tâm nghiên cứu các công trình xếp đá để khai thác nước ngầm ở Quảng Trị song còn ‘băn khoăn’ về chủ nhân của các công trình này. Từ những năm 90 của thế kỷ 20 cho đến gần đây, theo sự dẫn dắt của GS Trần Quốc Vượng từ các cuộc điền dã trên địa bàn của vương quốc Chăm Pa xưa, các nhà khảo cổ học trong nước đã phát hiện và nghiên cứu rất nhiều di tích giếng cổ ở các tỉnh từ Bình Thuận ra đến Quảng Bình. Hầu hết giới nghiên cứu đều đồng thuận đó là các giếng Chăm cổ, cho dù người Việt sau này đã tu sửa, nhiều nhất ở phần thành miệng giếng.
TS. Nguyễn Tiến Đông, Trưởng phòng Khảo cổ học Lịch sử Viện Khảo cổ học, người từng tốt nghiệp đại học với đề tài giếng Chăm cổ, rồi đeo đuổi đến cuối đời, cho rằng các giếng trong Đại Nội Huế và một số lăng vua Nguyễn cũng có nguồn gốc Chăm Pa. Ở Hà Tĩnh, ông cũng đã khảo sát và phát hiện được hàng chục giếng cổ ‘à la Champa’ (theo kiểu Chăm Pa) tại xã Hồng Lộc và Mai Phụ, huyện Lộc Hà; xã Cẩm Huy (huyện Cẩm Xuyên); xã Kỳ Trinh, Kỳ Châu, Kỳ Ninh, Kỳ Lợi (huyện Kỳ Anh). Ở xã đảo Nghi Sơn, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa, các nhà khảo cổ học cũng đã phát hiện nhiều giếng cổ mang dấu ấn văn hoá Chăm Pa. Trong đề tài nghiên cứu cấp bộ ở Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, TS. Nguyễn Tiến Đông còn nhắc đến những giếng cổ ở xã Bá Hộ (Bình Xuyên, Vĩnh Phúc); ở nhiều xã thuộc Thạch Thất, Đan Phượng, Phúc Thọ (Hà Nội)... Ngoài những điểm tương đồng về kỹ thuật làm giếng, thì điều cần lưu ý là: Đây từng có các sách-sở (nơi các vua phong kiến an trú tù binh, thợ thủ công Chăm Pa; nhiều địa danh ở Hà Nội còn lưu vết như Ngã Tư Sở, Yên Sở…
Đi sâu nghiên cứu, TS. Nguyễn Tiến Đông đã phân chia giếng Chăm cổ thành ba loại: giếng Đóng, giếng Mở và giếng Nửa Mở.
1- Giếng Đóng: Là loại phổ biến nhất, suốt dọc miền Trung ngày nay (Chăm Pa xưa) ở đâu cũng thấy xuất hiện loại giếng này. Về hình thức giống như giếng khơi ở Bắc bộ: Nước ngầm được trữ lại trong khuôn giếng bằng vật liệu khác.
Nhiều nơi ở miền Trung vẫn gọi các giếng này là giếng Hời (cách dân gian xưa gọi người Chăm). Khảo cổ học đã xác định: Thành giếng đa phần xếp bằng gạch Chăm cổ, tương tự gạch xây các đền, tháp Chăm Pa. Kỹ thuật xếp không hoàn toàn thống nhất; nhưng thường là cứ 2-3 lớp gạch xếp nằm theo chiều ngang thành giếng thì có 2-3 lớp gạch xếp dọc, vuông góc với lớp bên dưới, cắm sâu vào bờ đất. Có nhiều giếng thành được xếp đá (đá phiến thạch, nham thạch/đá núi lửa, đá bazan phong hóa/đá ong ...) Nhiều giếng dùng cả gạch và đá (đá dưới-gạch trên và ngược lại). Đã có ý kiến cho rằng các vật liệu gạch đá này đều có độ xốp nhất định, hình thành bộ lọc, giúp nước giếng trong/ngọt hơn.

Giếng dưới vuông, trên tròn
Về hình dáng, giếng thường có hình vuông, mỗi cạnh từ 1,15-1,50 m. Giếng hình tròn thường có đường kính từ 1,6-1,8 m.
Cũng có những giếng trên tròn, dưới vuông; nhưng đặc biệt bao giờ phần đáy giếng cũng có khung bằng gỗ cao chừng 30-40 cm. Bảo tàng tỉnh Ninh Thuận hiện đang lưu giữ một bộ khung gỗ này. Về chất liệu, khung/khuôn/cũi gỗ này có thể là Lim, Xuân/Sao, Trai, Cóc (tiếng Chăm là Gandak)
TS. Nguyễn Tiến Đông lý giải: “…Người ta làm cũi gỗ hình vuông theo kích thước đã định cho cái giếng sắp đào, đặt nó ở trên mặt đất và đào theo đúng khuôn đã định hình đó, giếng sâu đến đâu cái khung/cũi đó sẽ tụt dần theo, cứ như vậy giếng sẽ không bao giờ bị lệch hay xoắn vỏ đỗ, đảm bảo hình dạng chuẩn, không bị sụt lở do bị méo. Trong quá trình ấy, người thợ liên tục đào giật cấp từ mép khung/cũi gỗ vào thành giếng, tạo một khoảng cách đủ để đặt gạch hoặc đá xếp làm thành giếng. Mặt trên của khung gỗ giúp cân bằng mặt phẳng gạch đá xếp. Kết thúc việc đào - xây/xếp gạch hoặc đá của thành giếng, khung/cũi gỗ đó được để nguyên dưới đáy giếng…”
2- Giếng Mở: thực ra bao gồm cả hệ thống các công trình khai thác nước ngầm gồm nhiều thành phần, cấu trúc phức tạp, liên hoàn, đa hình dạng, đa chức năng, nằm ven các triền đồi đất đỏ bazan hoặc ven các triền đồi cát vùng đồng bằng và ven biển. Hệ thống này mang tính chất “dẫn thủy nhập điền” có vai trò thủy lợi cao trong sản xuất nông nghiệp.

Giếng Khai tại Thuỷ Tú, Vĩnh Tú, Vĩnh Linh, Quảng Trị
Dù xếp đá quây quanh (một cách rất ước lệ) thì Giếng Mở không giữ/trữ nước lại (sử dụng buộc phải múc lên), mà tự tràn tự chảy theo các cao độ khác nhau. Các học giả Pháp gọi là puits/giếng, bassin/bể-vũng: Ngay ở chỗ tìm được mạch ngầm (vách núi hay chân các động cát) nước để dùng để dâng cúng Thần linh/ăn uống. Khu vực tiếp theo, thấp hơn là chỗ tắm giặt và các sinh hoạt khác của con người. Nước còn được tích lại ở cấp thấp nhất, cho trâu bò uống, tắm … trước khi chảy vào mương máng dẫn ra đồng ruộng. Từ giếng sang các bể/vũng nhiều khi dùng máng đá dẫn dòng. Để dẫn nước từ các giếng này ra ruộng lúa trong toàn khu vực, có khi thông qua một con hói chạy dọc phía ngoài và các tuyến kênh nội đồng dẫn vào từng chân ruộng; có khi lại đổ thẳng vào bàu chứa trước khi dẫn ra ruộng.
Các hệ thống kiểu này phổ biến nhất ở vùng Gio Linh, Vĩnh Linh, Cam Lộ tỉnh Quảng Trị. Các học giả Pháp từng quan tâm nghiên cứu các thủy hệ này. Sau đó trên địa bàn các tỉnh Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Định, Ninh Thuận… các nhà khảo cổ học Việt Nam cũng phát hiện và nghiên cứu các giếng Mở tương tự.

Giếng Đào tại An Nha, Gio An, Gio Linh, Quảng Trị
Ở cuối xóm Vườn (An Phú, Tuy An, Phú Yên) đã tìm thấy một hệ thống 30 giếng có thành xếp bằng đá bazan xanh. GS. Trần Quốc Vượng nhận định: “Việc phát hiện hệ thống giếng xếp đá - dân gian Phú Yên gọi là giếng Lạng - ở xã An Phú, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên chứng tỏ sự tồn tại của một thủy hệ xếp đá (hydraulic system) đa chức năng. Đó là để làm nông nghiệp tưới tiêu (thủy lợi); để lấy nước sinh hoạt: nước ăn, nước tắm, nước giặt, nước cho trâu bò uống; để lấy nước thiêng cúng dường (cúng thần ở miếu, đình, chùa...). Nó cũng chứng tỏ sự tồn tại của một nền nông nghiệp đã rất phát triển và nối với nền hải thương quốc tế từ đầu Công nguyên và đặc biệt ở thời đại Đại thương mại (Grand commerce) ở các thế kỷ 16, 17, 18”.
Ở làng Chăm Thành Tín (Phước Hải, Ninh Phước, Ninh Thuận) hiện vẫn còn hệ thống giếng cổ có từ thời lập làng. Hai giếng cách nhau khoảng 10-15 m. Giếng phía Đông gọi là Pingung kamei (giếng Cái) hay Pingung angaok (giếng Trên). Giếng phía Tây gọi là Pingung linkei (giếng Đực) hay Pingung yok (giếng Dưới). Giếng sâu khoảng 2 m, mỗi bề rộng 1,5 m, ba mặt Tây, Nam, Đông đóng giàn bằng gỗ hình vuông cao hơn mặt đất khoảng 50-70 cm, phía Bắc để trống tiện cho việc lấy nước và là cửa nước tràn. Người ta cũng chia ba khu vực: lấy nước ăn uống, tắm giặt, cho trâu bò uống và cấp nước tưới cho khoảng 10 ha lúa của đồng Giếng (Dja Pingung).
3- Giếng Nửa Mở: Còn gọi là giếng Bộng, có nguồn nước cấp thường từ những mạch ngầm ở chân cồn cát hoặc đồng ruộng. Người ta lấy một tấm đá lớn khoét lỗ, hoặc một thân cây cổ thụ khoét rỗng ruột để giữ nước. Tảng đá hoặc thân cây khoét rỗng được úp lên chỗ mạch nước, cố định chắc chắn, nước chảy dâng lên tự nhiên quanh năm và thoát ra từ lỗ đã khoét, cho người sử dụng hoặc chảy thoải mái ra đồng ruộng. Loại giếng này thường nằm xa khu dân cư một khoảng cách vừa phải.
Riêng ở Quảng Trị, loại giếng này vừa mang hình ảnh của loại giếng Đóng, vừa bảo lưu kỹ thuật xếp đá theo nguyên tắc tự chảy của loại hình giếng Mở. Những giếng này được làm ở ngay chân đồi đất đỏ hay đồi cát bằng cách đào sâu xuống đất - nơi có mạch nước ngầm - rồi thả những “bi giếng” bằng đá khối bazan, đường kính chỉ khoảng 0,5 m chồng lên nhau làm thành giếng. Nước ngầm dâng cao sẽ tràn qua miệng giếng. Có nơi, ở vòng “bi giếng” trên cùng (nổi trên mặt đất), người ta đục một lỗ lưng chừng, tạo hình vòi cho nước thoát ra, chảy theo đường rãnh trên nền giếng vào các đường mương bằng đá xếp đến hồ chứa trước khi được điều tiết ra đồng ruộng.

Giếng Pheo làng Tân văn, Gio An, Gio Linh, Quảng Trị
Giếng, theo hiểu biết chung, là nơi đào sâu vào lòng đất để lấy và trữ nước ngầm. Còn ao chỉ là nơi trữ nước mưa, nước mặt. Các giếng làng ở Bắc bộ thực chất là ao bởi kích thước rộng đến cả chục mét, và xét về chất nước, đó là nước đọng, không phải nước ngầm.
Không phủ nhận thực tế là ở miền Bắc vẫn tồn tại giếng khơi. Tuy nhiên, đó không phải là nguồn cấp nước chính và phổ biến như các giếng Chăm cổ ở miền Trung.
Do điều kiện khí hậu và tự nhiên, ở miền Trung không thể “Lạy Giời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lầy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm” như ở miền Bắc. Người dân Chăm Pa từ ngàn đời trước đã rất tinh thông trong việc lấy nước ngầm.
Một điều khác biệt nữa là hệ thống giếng Chăm cổ không chỉ cung cấp đủ nước sinh hoạt, sản xuất mà còn xuất khẩu cho các thương thuyền. Đó chính là một lý do quan trọng để các hải đồ, thương đồ từ thế kỷ 16-17-18, thời đại Đại Thương mại (Grand Commerce) vẫn ghi vùng biển miền Trung là “Biển Chăm Pa”.
VWSA tập huấn Nghị định 290 - Kết nối thực tiễn để hoàn thiện chính sách ngành Nước
Nước uống tại vòi chờ hành lang kỹ thuật
Đọc thêm
Giải chạy bộ “Ngày hội Gia đình HueWACO” lần thứ V năm 2026: Lan tỏa tinh thần thể thao vì sức khỏe cộng đồng
Nhằm nâng cao sức khỏe, thúc đẩy tinh thần rèn luyện thể dục thể thao và lan tỏa tinh thần đoàn kết trong cộng đồng ngành Nước, hơn 500 vận động viên là các khách mời, cán bộ, công nhân viên và người thân gia đình HueWACO đã tham gia Giải chạy bộ “Ngày hội Gia đình HueWACO” lần thứ V.
Đại hội VWSA nhiệm kỳ VII và Tuần lễ ngành Nước Việt Nam 2026: Hai sự kiện, một điểm tụ
Năm 2026 đánh dấu cột mốc đặc biệt của ngành Nước khi tổ chức đồng thời Tuần lễ ngành Nước Việt Nam (Vietnam Water Week) và Đại hội Đại biểu toàn quốc nhiệm kỳ VII Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA). Sự cộng hưởng ấy tạo nên điểm hội tụ hiếm có, nơi tầm nhìn, công nghệ, doanh nghiệp và các nguồn lực phát triển giao thoa.
"Nước cho cuộc sống" - Đa sắc màu chủ đề qua các tác phẩm dự thi
Mỗi giọt nước đều mang trong mình một câu chuyện và mỗi bức ảnh dự thi là một góc nhìn riêng về nguồn sống. Các tác phẩm đang được gửi về Cuộc thi ảnh "Nước cho cuộc sống" 2026 đang lan tỏa những giá trị nhân văn, vẻ đẹp lao động và tình yêu dành cho tài nguyên quý giá của đất nước.
Hội Cấp Thoát nước Việt Nam chúc mừng Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam nhân dịp 21/6
Lãnh đạo Hội Cấp Thoát nước Việt Nam ghi nhận những đóng góp của Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam trong công tác thông tin, tuyên truyền về ngành Nước; đồng thời mong muốn Tạp chí tiếp tục đổi mới nội dung, đẩy mạnh phát triển nền tảng điện tử và phát huy vai trò cơ quan ngôn luận của Hội trong giai đoạn mới.
Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA): Những "dấu son" trên hành trình phát triển
Nhân dịp kỷ niệm 38 năm thành lập Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (07/6/1988 - 07/6/2026), Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam trân trọng kính mời quý độc giả cùng nhìn lại những dấu ấn nổi bật trên hành trình gần bốn thập kỷ xây dựng và phát triển của Hội.
Vietnam Water Week - Dấu ấn hội nhập của ngành Nước Việt Nam
Bước sang năm thứ 5, Tuần lễ ngành Nước Việt Nam (Vietnam Water Week) không chỉ là sự kiện thường niên quy mô lớn của Ngành mà còn phản ánh tư duy hội nhập chủ động, năng lực kết nối quốc tế và vai trò ngày càng rõ nét của Hội Cấp Thoát nước Việt Nam trong việc kiến tạo không gian hợp tác mới cho ngành Nước Việt Nam.
Nhựa Tiền Phong lan tỏa trách nhiệm cộng đồng qua chương trình “Giao thông xanh”
Ngày 26/5/2026, tại Trường Trung học cơ sở Đông Hải (phường Đông Hải), Phòng Cảnh sát giao thông (Công an TP. Hải Phòng) phối hợp Công ty CP Nhựa Thiếu niên Tiền Phong tổ chức chương trình “Giao thông xanh - Hành trình an toàn, vững vàng tiên phong” - trạm số 9.
VWTC tổ chức khóa đào tạo chuyên sâu về vận hành nhà máy xử lý nước thải và xử lý sự cố
Ngày 27/5/2026, Trung tâm Đào tạo Bồi dưỡng ngành Nước Việt Nam (VWTC) thuộc Hội Cấp Thoát nước Việt Nam đã tổ chức "Khóa đào tạo cơ bản và nâng cao về vận hành nhà máy xử lý nước thải và xử lý sự cố”.
Chung tay lan tỏa giá trị nguồn nước qua nghệ thuật nhiếp ảnh
Sau gần 2 tháng phát động, Cuộc thi ảnh “Nước cho cuộc sống” - năm 2026 đã thu hút gần 300 tác phẩm của hơn 50 tác giả trên cả nước. Ban Tổ chức kỳ vọng tiếp tục nhận được sự đồng hành của doanh nghiệp, hội viên và những người yêu nhiếp ảnh, quan tâm đến giá trị của nguồn nước và cuộc sống cộng đồng.