Nhiệt độ
Nông dân U Minh Thượng thiếu chuẩn bị trước biến đổi khí hậu
Hạn hán kéo dài, nguồn nước cạn kiệt vào mùa khô là tình trạng quen thuộc với nhiều hộ dân tại Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Riêng ở U Minh Thượng, vùng đất ngập nước được bảo vệ ở phía Tây Nam của ĐBSCL, bà con nông dân dường như đã quên mất mối đe dọa của biến đổi khí hậu.

Khoảng 200 năm về trước, ĐBSCL là một vùng đất ngập nước rộng lớn, nơi nuôi dưỡng các hệ sinh thái rừng đầm lầy phong phú. Vùng đất ấy đã trở thành một nguồn tài nguyên dồi dào cho cư dân.
Khi người Pháp, người Mỹ, rồi người Việt thực hiện chuyển đổi đất rừng thành đất canh tác, diện tích đất ngập nước bị giảm đi đáng kể. Theo một báo cáo năm 2016 của ông Nguyễn Hữu Hoàng và cộng sự, việc xây dựng đê điều, kênh rạch để bảo vệ ruộng lúa và cải thiện tưới tiêu đã khiến diện tích đất ngập nước giảm từ 4 triệu héc-ta vào những năm 1800, xuống còn 68.000 héc-ta vào năm 2016 (tức chỉ còn chưa tới 2%).
Ngày nay, đất ngập nước tiếp tục chịu sự đe dọa từ quá trình phát triển nông nghiệp và biến đổi khí hậu. U Minh Thượng chính là một trong những vùng đất ngập nước cuối cùng ở ĐBSCL.
Từ khi được thành lập vào năm 2002, Vườn quốc gia U Minh Thượng đã nhiều lần được các tổ chức bảo tồn quốc tế trao tặng các giải thưởng nhờ sự đa dạng sinh học và hệ sinh thái đất ngập nước đặc biệt. Năm 2006, UNESCO tuyên bố nơi đây là khu dự trữ sinh quyển của thế giới. Năm 2016, U Minh Thượng cũng chính thức được công nhận là vùng đất ngập nước quan trọng với Trái đất theo Công ước Ramsar về Đất ngập nước.
Khu bảo tồn nằm trong vùng lõi có diện tích 8.000 héc-ta, bao gồm một phần đầm lầy mở và một khu rừng tràm rộng lớn. Trong khu vực này, ta có thể bắt gặp 24 loài động vật có vú, 226 loài thực vật hoang dã và 185 loài chim khác nhau. Bao bọc vùng lõi là vùng đệm, một khu vực có diện tích 13.000 héc-ta dành cho cư dân canh tác và sinh sống.
Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu đã khiến thời tiết trở nên thất thường, tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn ở ĐBSCL cũng vì thế mà nghiêm trọng hơn. Từ năm 2015, lượng mưa vào mùa khô ở khu vực này có xu hướng giảm 10-40% mỗi năm. Nhiệt độ trung bình cũng đang tăng lên. Mùa khô năm 2018-2019 đã khiến 20.000 héc-ta hoa màu bị hư hại.
Khác với những người sống gần biển - nơi thường xuyên bị hạn hán và xâm nhập mặn - nông dân sống gần U Minh Thượng được môi trường và thời tiết nơi đây bảo vệ. Vì vậy mà họ hiếm khi gặp phải các tác động cực đoan của biến đổi khí hậu.
“Nguy cơ lớn nhất là họ mất cảnh giác. Tại vì cái gì cũng bình thường, cũng tốt quá, nên họ không cần quan tâm gì hết”, tiến sĩ Dương Văn Ni giải thích với Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam. Ông là người chỉ đạo dự án điều tra về các vùng đất ngập nước và an ninh nguồn nước tại Việt Nam.
“Ở những chỗ [thiếu nước], người dân ít nhiều đã được chuẩn bị về mặt tâm lý. Thành thử khi có những cú sốc xảy ra, như thiếu nước chẳng hạn, thì người dân có cách ứng phó đa dạng và phong phú hơn”, tiến sĩ nói thêm.

Vợ chồng chị Thương vừa sắm chiếc thuyền máy để sang các vườn bên chở chuối.
Cuộc sống ở U Minh Thượng có vẻ bình yên, đủ đầy, nhưng trên thực tế, dòng Cửu Long không dẫn nước ngọt tới đây. Vào mùa khô, nước biển (cách đó 50 km) tràn về, lấp đầy hệ thống kênh rạch bao quanh khu vực. Điều này khiến người dân hoàn toàn bị phụ thuộc vào nước mưa để canh tác và đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thường ngày.

Nước máy cần được để lắng vài ngày trước khi sử dụng.
“Như vậy, nếu không có mưa thì sao?”
Hàng ngàn nông dân dựa vào U Minh Thượng để sống
Phần lớn nông dân ở U Minh Thượng định cư tại vùng đệm từ khoảng 20 - 30 năm về trước. Tại thời điểm đó, mỗi gia đình được chia 5 héc-ta đất gồm 1 héc-ta để khôi phục rừng tràm, 4 héc-ta còn lại để canh tác và sinh sống.
Trong quá trình định cư, họ dẫn nước ngọt từ con sông gần đó để trồng lúa và cây ăn quả. Nhưng vì lạm dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nguồn nước này đã không còn uống được nữa.
“Giờ đây, bà con nông dân phải đào giếng để lấy nước uống và tắm rửa. Một số người dùng các thùng lớn để trữ nước vào mùa mưa để có nước uống”, ông Hoàng Ngọc Hiếu, một nhà nghiên cứu tại Đại học Cần Thơ, chia sẻ.
Nước có thể trở nên khan hiếm vào mùa khô, nhưng người nông dân vùng U Minh Thượng không bao giờ thiếu nước trồng trọt. Vùng lõi của vườn quốc gia được nhiều lớp thực vật chết tạo thành. Qua quá trình tích hợp nhiều thế kỷ, thực vật chết đã biến thành một lớp than bùn sâu, có khả năng hút nước mưa và từ từ nhả ra khu vực xung quanh vào mùa khô. Chính vùng lõi này đã bảo vệ cư dân U Minh Thượng khỏi sự thiếu nước.
Bà con nông dân cũng biết rằng cuộc sống của họ dựa vào khả năng điều hòa nước ngọt của vùng lõi. Họ chịu trách nhiệm bảo vệ khu vực này, duy trì độ ẩm của lớp bùn và không để nó bị mục rữa hay bắt lửa.
“Trong đó chừng nào nước đầy lắm người ta mới xả ra. Ngoài này người ta đóng cảo (nắp cống) nên quanh năm nước ngọt, nhờ vậy mà 20 năm nay chế (chị) mới sống được”, chị Thương, một người dân tộc Khmer sống nhờ vào nuôi cá, trồng chuối và gừng, đã chia sẻ với Tạp chí.
Theo ông Hiếu, việc đóng cống ngăn nước vào mùa khô cũng giúp bà con phòng chống hỏa hoạn ở vùng lõi.
Nông dân thiếu sự chuẩn bị khi đối mặt với biến đổi khí hậu

Vị trí vùng lôi và vùng đệm U Minh Thượng.
U Minh Thượng đang thay đổi vì biến đổi khí hậu và sản xuất nông nghiệp, nhưng rất ít người tại đây nhận thức được điều này.
“Thời tiết bây giờ nóng hơn so với 10 năm về trước”, ông Lý Văn Tình, người đã sống ở đây được 40 năm, nói với Tạp chí. “Từ năm 90 về trước, mưa rồi sẽ mát mẻ tới chiều. Còn bây giờ mưa xong, trời nắng lại gắt”.
Theo ông, điều đáng lo ngại không phải là biến đổi khí hậu, mà là sự suy giảm nguồn nước ngầm. Ông lo lắng rằng đến năm 2030 sẽ không còn đủ nước để làm nông nghiệp hay trồng cây công nghiệp nữa.
Mối lo ngại này của ông được phản ánh trong những khám phá của tiến sĩ Dương Văn Ni. Theo ông, tầng đất ngập nước của U Minh Thượng đang co lại. “Thời tôi đi khảo sát vào những năm 80, tầng này dày 3 - 4 m. Giờ đây những nơi dày nhất cũng chỉ còn 1 - 1,5 m. Như vậy, khả năng hấp thụ nước chỉ còn 25 - 30% so với ngày xưa”.
Rủi ro chồng chất rủi ro. Chính quyền địa phương tại U Minh Thượng không có kinh nghiệm tổ chức cung cấp nước sạch cho một cộng đồng vài nghìn người. Không những vậy, khu vực này không có cơ sở hạ tầng cung cấp nước sạch.
“Tại Bến Tre, chính quyền địa phương có kinh nghiệm rất tốt. Họ biết cách huy động các mạnh thường quân, các tổ chức phi chính phủ, quỹ tài trợ của chính phủ. Họ biết phải mua thứ gì, phải làm cái gì, cung cấp cho ai...”, tiến sĩ Ni nói.
Trò chơi mô phỏng giúp thay đổi tư duy
Dự án của tiến sĩ Ni có mục tiêu giúp người dân U Minh Thượng nhận ra hậu quả của việc lượng mưa đột ngột giảm, dẫn tới thiếu hụt nước ngọt. Ông và nhóm thực hiện dự án dùng một trò chơi để mô phỏng những thay đổi này cho các cán bộ và người dân địa phương.

Ảnh chụp kênh 21, xã An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang ngày 15/02/2022.
Trò chơi này được xây dựng dựa trên các dữ liệu thực tế. Qua nhiều vòng kiểm tra, phiên bản cuối cùng của trò chơi sẽ đảm bảo phản ánh xác thực hiện trạng của U Minh Thượng.
“Chúng tôi sẽ mời dân làng tới tham gia các hoạt động chính, như quản lý nguồn nước và trồng thêm lúa”, tiến sĩ Pong Chai, chuyên gia xây dựng những kịch bản mô phỏng, nói với Tạp chí. Các nghiên cứu viên sẽ ghi lại những hành vi khác nhau của người chơi và so sánh chúng với dữ liệu thực tế. Một khi trò chơi khớp với hiện thực, các nghiên cứu viên sẽ giới thiệu một số kịch bản mới, ví dụ như hạn hán.
Qua trò chơi này, tiến sĩ Pong Chai mong rằng mọi người sẽ hiểu hơn về các kịch bản khác nhau trong tương lai và thảo luận về các chính sách của địa phương. Các bên liên quan khác cũng có thể tham gia trò chơi để tăng độ phức tạp và tính xác thực.
Trong một lần mô phỏng trước đây, tiến sĩ Pong đã giúp nông dân tại một khu vực nhận ra rằng họ nên cải thiện sản xuất nông nghiệp, thay vì mở rộng đất canh tác vào rừng và đối mặt nguy cơ đi tù. Ông cũng thành công trong việc thuyết phục họ phân tích mẫu đất để cải thiện phân bón.
“Chúng tôi cố gắng tạo ra một quan điểm đồng nhất. Khi mọi người học hỏi từ nhau, họ sẽ có hành động thống nhất. Từ đó, cả một hệ thống sẽ được cải thiện”, tiến sĩ Pong Chai nói.

Tới cuối trò chơi, người chơi sẽ nhìn thấy những thay đổi tiềm năng của môi trường và gây ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt của họ. Nông dân có thể thay đổi hành vi còn chính quyền địa phương có thể lên kế hoạch lường trước hạn hán ở cả những nơi như U Minh Thượng.
“Nhiều người nói chúng ta nên học tập mô hình của Hà Lan hay Israel. Không. Quan trọng nhất là học để hiểu chính bản thân mình, hiểu quá khứ và hiểu tại sao chúng ta lại ở trong hoàn cảnh này. Khi chúng ta biết kết hợp những tri thức đó với những kinh nghiệm của Hà Lan, Israel để xây dựng nên mô hình riêng của chính mình, thì chúng ta mới có thể thực sự đứng vững”, tiến sĩ Ni nói. • Bài Thuan Sarzynski; Biên dịch: Ngọc Anh
Đồng hồ nước thông minh: Xu hướng mới trong chuyển đổi số ngành nước
Thông báo: Cập nhật thông tin hội viên phục vụ công tác phát hành Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam (bản in)
Doanh nghiệp ngành Nước tìm giải pháp kiểm soát tồn thu trong thanh toán không dùng tiền mặt
Đọc thêm
SAWACO chủ động ứng phó xâm nhập mặn, bảo đảm cấp nước cho TP.HCM
Tình trạng xâm nhập mặn tại khu vực Nam Bộ và TP.HCM đang có xu hướng diễn biến phức tạp dưới tác động của biến đổi khí hậu, hạn hán và thủy triều. Trước thực tế này, Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn TNHH MTV (SAWACO) triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo đảm cung cấp nước sạch ổn định cho người dân TP.HCM.
An ninh nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long từ Kết luận 26 của Bộ Chính trị
Kết luận số 26-KL/TW của Bộ Chính trị đặt vấn đề phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong một cách tiếp cận rộng hơn. Trọng tâm không chỉ là ứng phó từng đợt hạn, mặn, mà là bảo đảm an ninh nguồn nước cho cả vùng trong giai đoạn 2026 - 2035.
VWSA lưu ý hội viên về quy định xử phạt liên quan chất lượng nước sạch sinh hoạt
Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA) thông tin tới các đơn vị hội viên một số nội dung liên quan lĩnh vực cấp nước sinh hoạt trong Nghị định số 90/2026/NĐ-CP của Chính phủ, trong đó có quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt.
Bảo đảm an ninh nguồn nước trước mục tiêu tăng trưởng xanh
Tăng trưởng xanh, cam kết Net Zero và tiêu chuẩn ESG đang đặt ngành Nước trước yêu cầu chuyển đổi chưa từng có. Trong khi đó, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và đô thị hóa lại tác động trực tiếp đến an ninh nguồn nước tại Hà Nội và nhiều địa phương. Thực tế này đòi hỏi các nhóm giải pháp đồng bộ và dài hạn hơn.
Phía Nam Hà Nội rà soát phương án tiêu úng trước mùa mưa
Công ty TNHH MTV Đầu tư phát triển thủy lợi sông Đáy đang đề xuất lắp đặt, thay thế một số tổ máy bơm dã chiến để hỗ trợ tiêu nước cho lưu vực trạm bơm Triều Đông, khu vực có khoảng 430ha gặp khó khăn về tiêu thoát nước.
Cà phê, hồ tiêu “khát nước” giữa mùa khô Tây Nguyên
Nắng hạn gay gắt khiến ao hồ ở Gia Lai và nhiều vùng Tây Nguyên cạn trơ đáy, hàng nghìn hecta cà phê, hồ tiêu rơi vào cảnh “khát nước”. Người dân phải chắt chiu từng giọt, đào sâu lòng hồ tìm mạch ngầm cứu cây, nhưng nguồn nước ít ỏi không đủ, nguy cơ mất trắng mùa vụ ngày càng hiện hữu.
Phục hồi nguồn nước không thể chậm hơn thực tiễn
Phục hồi nguồn nước suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm là yêu cầu cấp thiết để bảo đảm an ninh nước. Tại tọa đàm “Các giải pháp phục hồi nguồn nước” ở Hà Nội, chuyên gia nhấn mạnh cần xây dựng tiêu chí đánh giá, kiểm soát nguồn thải và cơ chế đầu tư dài hạn.
Phát động Tuần lễ Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn 2026
Với chủ đề “Cấp nước an toàn - Ứng dụng công nghệ số - Phát triển bền vững”, chương trình năm nay nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả cấp nước và bảo vệ môi trường trong bối cảnh chuyển đổi số.
Water Forward thúc đẩy làn sóng cam kết mới về an ninh nguồn nước
Tại sự kiện công bố sáng kiến Water Forward do Nhóm Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế tổ chức mới đây, nhiều quốc gia, tổ chức tài chính và doanh nghiệp đã đưa ra các cam kết cụ thể, cho thấy Water Forward thúc đẩy làn sóng cam kết mới về an ninh nguồn nước.