Nhiệt độ
Nghiên cứu: Các đồng bằng bên sông có nguy cơ bị chìm
Các đồng bằng ven biển có thể mất nhiều đất hơn so với hiểu biết trước đây do các con sông thay đổi dòng chảy theo thời gian, Smart Water Magazine đưa tin.
Bề mặt các đồng bằng thường chỉ là nhất thời, bởi phù sa mới trong dòng sông bù đắp cho sự sụt lún và giúp duy trì bề mặt đồng bằng cao hơn mực nước biển.
Đất ở các đồng bằng đang bị lún do hiện tượng nước biển dâng, sụt lún đất và nguồn cấp phù sa bị giảm, bản tin ngày 21/10 của Smart Water Magazine dẫn tin Tạp chí Hakai chuyên đăng tin về vùng ven biển cho hay.
Khai thác nước ngầm cho nông nghiệp và các thành phố đang phát triển là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng sụt lún. Mặt khác, biến đổi khí hậu được cho là sẽ khiến dòng chảy phù sa tăng lên đôi chút khi lượng mưa gia tăng rửa trôi nhiều đất hơn vào các con sông, nhưng nó sẽ được bù đắp nhiều hơn nhờ các con đập, nơi giữ lại trầm tích.
Các đồng bằng bên sông trên khắp thế giới là nơi sinh sống của hàng tră triệu người, chẳng hạn như ở thành phố Kolkata ở đồng bằng sông Hằng, Bangkok ở đồng bằng Chao Phraya, hoặc Thượng Hải, một trong hàng chục thành phố lớn ở đồng bằng sông Dương Tử.
Các mô hình trước đây khi dự báo sự phát triển của đồng bằng đã so sánh tốc độ dâng của nước biển với sự lắng đọng trầm tích, giả định rằng trầm tích được trải đều trên đồng bằng.

Đất đai màu mỡ khiến vùng đồng bằng trở thành những điểm nóng để sản xuất lương thực. (Ảnh: Phuong D. Nguyen/Shutterstock)
Nhưng một nghiên cứu mới từ Viện Công nghệ California (Mỹ) do Austin Chadwick dẫn đầu đã phân tích sự lắng đọng trầm tích, có tính đến việc các con sông thay đổi dòng chảy định kỳ, chuyển hướng phù sa đến các khu vực khác nhau của đồng bằng được gọi là các thùy.
Kết quả nghiên cứu của họ chỉ ra rằng, trong khi đất mới được xây dựng trên các thùy đang hoạt động, các thùy không hoạt động không còn nhận được bất kỳ trầm tích nào và bắt đầu bị xói mòn, dần dần dẫn đến mất đất ở vùng đồng bằng.
Những dự báo của họ là tin tiêu cực đối với một số vùng đồng bằng được nghiên cứu. Sông Mississippi sẽ cần lượng phù sa nhiều gấp ba lần để duy trì vùng đất khô đồng bằng hiện nay.
Đồng bằng sông Danube sẽ cần lượng phù sa gấp 10 lần để duy trì.
Tuy nhiên, không phải tất cả các đồng bằng đều đối mặt với trường hợp đó.
Sông Hoàng Hà mang theo nhiều phù sa đến mức cứ 10 năm lại hình thành một thùy mới và các kỹ sư đã có thể chuyển hướng dòng sông, dù với chi phí cao, để gia tăng sự lắng đọng phù sa ở những khu vực được chọn, tối đa hóa việc xây dựng đất đai.
Tuy nhiên, những giải pháp này có thể không khả thi trong tương lai khi nước biển tiếp tục dâng.

Phù sa đóng vai trò quan trọng trong khả năng chống chịu khí hậu đối với các vùng đồng bằng trên thế giới. (Ảnh: Zita Sebesvari)
Các kế hoạch xây dựng bất kỳ con đập mới nào đều phải đánh giá rủi ro và hậu quả đối với các vùng hạ lưu do việc vận chuyển phù sa bị thay đổi, trong khi hợp tác quốc tế rất quan trọng ở các vùng đồng bằng nơi trầm tích được chuyển đến bởi các con sông chảy qua nhiều quốc gia, chẳng hạn như sông Hằng hoặc sông Mê Kông.
Thoát nước đô thị Việt Nam sau ba thập kỷ đầu tư: Khoảng cách giữa công trình và hiệu quả môi trường
Mực nước sông Đà giảm mạnh, nhà máy nước sạch chủ động phương án vận hành
20 mũi thi công khẩn trương bổ cập nước cải tạo sông Tô Lịch và chống ngập đô thị
Đọc thêm
Đánh giá đặc điểm và ứng dụng của Eco-Enzyme được sản xuất từ vỏ họ quả Citrus
Bài báo này trình bày nghiên cứu về ứng dụng của Eco-Enzyme trong việc giảm thiểu cục bộ ô nhiễm nước.
Giải pháp kỹ thuật khắc phục khiếm khuyết dữ liệu công tác mô hình hóa hệ thống truyền tải nước sạch *
Mô hình mô phỏng hoạt động của hệ thống phân phối nước một cách gần đúng, cho phép đánh giá hiệu suất vận hành, tối ưu hóa chi phí và đảm bảo an toàn cấp nước trong nhiều kịch bản khác nhau.
AI và “cơn khát nước” của nền kinh tế số
Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo đang kéo theo nhu cầu khổng lồ về điện và nước cho các trung tâm dữ liệu. Đằng sau tăng trưởng của nền kinh tế số là “dấu chân nước” ngày càng lớn, đặt ra thách thức mới đối với quản trị tài nguyên và phát triển bền vững.
Lời giải kỹ thuật cho bài toán vận hành hệ thống cấp nước Quảng Ninh
Việc ứng dụng phối hợp các giải pháp hệ thống giám sát và thu thập giữ liệu (SCADA) - thông tin địa lý (GIS) - phân vùng (DMA) chính là lời giải kỹ thuật cho bài toán vận hành hệ thống cấp nước Quảng Ninh, giúp công tác quản lý chuyển từ phản ứng khi có sự cố sang chủ động giám sát - kiểm soát - tối ưu.
Khi dữ liệu trở thành điều kiện sống còn của ngành cấp nước
Trong bối cảnh áp lực tài chính gia tăng và yêu cầu minh bạch ngày càng cao, ngành cấp nước Việt Nam đang đứng trước đòi hỏi phải chuẩn hóa dữ liệu vận hành. NewIBNET không chỉ là công cụ so sánh quốc tế, mà đang trở thành nền tảng giúp doanh nghiệp nâng cao quản trị và củng cố năng lực tiếp cận nguồn vốn.
Người “gieo” sáng kiến trong quản trị nước sạch đô thị
Từ những cải tiến cụ thể như tích hợp dữ liệu GIS, giám sát SCADA đến tối ưu điều tiết áp lực, hành trình “gieo sáng kiến” của người kỹ sư ngành Nước đang góp phần hình thành nền tảng trí tuệ cho quản trị hệ thống cung ứng nước sạch.
Tư vấn lựa chọn máy ép bùn hiệu quả cho nhà máy cấp nước
Trong hệ thống xử lý nước cấp hiện đại, máy ép bùn được xem là thiết bị không thể thiếu, phát huy hiệu quả trong việc giảm thể tích bùn. Từ đó giúp tối ưu hóa chi phí vận hành và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường.
Tối ưu chi phí xử lý bùn thải cho doanh nghiệp ngành Nước và Môi trường
Trong vận hành hệ thống xử lý nước thải, bùn thải đang là một trong những hợp phần tiêu tốn chi phí, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả vận hành và tính bền vững của các công trình. Việc ứng dụng các giải pháp tối ưu về công nghệ và hiệu quả kinh tế trong xử lý bùn thải trở thành vấn đề cấp thiết.
Tăng cường hợp tác đào tạo, nghiên cứu giữa Trường ĐH Xây dựng Hà Nội và Công ty TNHH MTV Nước sạch Hà Nội
Ngày 15/01/2026, tại trụ sở Công ty TNHH MTV Nước sạch Hà Nội, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội (HUCE) và Công ty TNHH MTV Nước sạch Hà Nội (HAWACOM) đã tổ chức Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ và Thỏa thuận hợp tác.