Nhiệt độ
Cấp nước an toàn nông thôn giúp Việt Nam phát triển bền vững
Kế hoạch Cấp nước an toàn (KHCNAT) Việt Nam thực hiện từ 2009 đến nay đã giúp hơn 90% dân số nông thôn có nước sạch, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.
Trong tổng số 98,5 triệu người Việt Nam, có tới gần 62 triệu người, chiếm tỷ lệ gần 63%, sống ở nông thôn. Đất nước Đông Nam Á đã và đang nỗ lực thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc nhằm xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường và khí hậu trái đất và đảm bảo tất cả mọi người có thể tận hưởng hòa bình và thịnh vượng.
Mục tiêu thứ 6 trong 17 Mục tiêu Phát triển Bền vững cho giai đoạn 2015–2030 của Liên Hợp Quốc nhằm “Đảm bảo quyền được có nước sạch và vệ sinh môi trường cho tất cả mọi người".
“Việt Nam may mắn hơn nhiều quốc gia khác trong khu vực là đã áp dụng KHCNAT ở cả thành thị và nông thôn, như vậy việc Việt Nam thực hiện được Mục tiêu Phát triển Bền vững 6 của Liên Hợp Quốc không phải điều quá xa vời”, ông Tôn Tuấn Nghĩa, chuyên gia Sức khỏe Môi trường của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam, nói với Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam.

Nhà máy nước Tân Thắng
Thành công ban đầu
Ông Tôn Tuấn Nghĩa cho biết, trước khi thực hiện KHCNAT, các đơn vị cấp nước nông thôn chưa chú trọng đến quản lý rủi ro trong sản xuất và phân phối nước. Mọi nỗ lực mới chỉ đạt ở mức làm sao cung cấp đủ nước cho người dân theo tiêu chuẩn QCVN 02:2009/BYT về nước sinh hoạt của Bộ Y tế.
Tuy nhiên, sau khi nước sạch đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia từ nhà máy chảy qua hệ thống đường ống, không ai có thể đảm bảo rằng nước không bị tái nhiễm bẩn, nhất là khi công nghệ xử lý nước ở nông thôn phần lớn đã lạc hậu, hệ thống cấp nước nông thôn có nhiều nguy cơ bị hỏng và nhiễm bẩn, cùng với năng lực quản lý vận hành còn nhiều hạn chế.
Cách tiếp cận truyền thống phổ biến ở Việt Nam và các nước trong khu vực trước đây bằng cách xét nghiệm chất lượng nước đầu ra thực chất không hiệu quả vì số mẫu lấy được quá ít so với lượng nước được sản xuất, không đảm bảo tính đại diện.
Dù đầu ra từ các nhà máy là nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia, không ai có thể đảm bảo rằng nước không bị tái nhiễm bẩn, nhất là khi công nghệ xử lý nước ở nông thôn phần lớn đã lạc hậu, cùng với năng lực quản lý vận hành hạn chế. Ảnh: Trung tâm Nước Quảng Bình
Trong trường hợp ô nhiễm nước xảy ra, thời gian lấy mẫu lâu, kết quả xét nghiệm cũng không chỉ ra cho đơn vị cấp nước được nguyên nhân, địa điểm và thời gian diễn ra sự cố.
Khác với cách tiếp cận trên, KHCNAT mang tính chủ động phòng ngừa, dựa trên cơ sở phát hiện, phân tích và quản lý toàn diện các rủi ro trong toàn bộ quy trình sản xuất nước sạch, từ nguồn nước tới người sử dụng, sử dụng nhiều rào chắn để đảm loại bỏ các rủi ro và bảo chất lượng nước đầu ra.

Bà Nguyễn Thị Hương, Chuyên viên của Vụ Nguồn nước và Nước sạch Nông thôn, Tổng cục Thủy lợi nhận định, ngoài lợi ích rõ rệt về phòng tránh dịch bệnh, việc áp dụng KHCNAT mang lại cơ hội tiếp cận nguồn nước đảm bảo cho cả người dân nông thôn, từ đó thu hẹp khoảng cách giữa người dân đô thị và nông thôn và giữa các vùng, miền.
Tới cuối 2021, tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh tăng lên 92,5% từ 79% năm 2009 khi bắt đầu thực hiện KHCNAT ở nông thôn, còn tỷ lệ người dân nông thôn tiếp cận nước được quản lý an toàn (đạt tiêu chuẩn QCVN 02) cũng đạt 54% so với 44% trong cùng giai đoạn, Vụ Nguồn nước và Nước sạch Nông thôn nêu trong một báo cáo tại Hội thảo về KHCNAT ở Việt Nam ngày 21/4/2022.
Việt Nam đã xây dựng và ban hành sổ tay hướng dẫn lập và thực hiện KHCNAT nông thôn (ban hành theo QĐ 244/QĐ-TCTL ngày 6/6/2019); ban hành đề án cấp nước sạch nông thôn đến năm 2025, trong đó Thủ tướng đã chỉ đạo lồng ghép thực hiện KHCNAT trong các chương trình, dự án nước sạch.
Đặc biệt, đã có 549 công trình lập và thực hiện KHCNAT trong giai đoạn 2016-2021, nhiều địa phương đạt 50-100% số lượng công trình như Bà Rịa–Vũng Tàu (7/7 công trình), Huế (21/67 công trình), Trà Vinh (53/100 công trình).
Chặng đường tiếp theo
Ông Tôn Tuấn Nghĩa nhận xét, do bản chất hệ thống cấp nước nông thôn chủ yếu nhỏ lẻ, áp dụng đa dạng công nghệ xử lý nước, bản thân việc thực hiện được KHCNAT nông thôn đã là một thành công nằm ngoài dự kiến, tuy nhiên độ bao phủ 54% của cấp nước an toàn như trên là chưa cao, chất lượng nước đến tay người dân chưa đồng đều.
Cũng theo báo cáo nói trên của Vụ Nguồn nước và Nước sạch Nông thôn, cho đến nay, khoảng gần 30 triệu dân nông thôn vẫn chưa được tiếp cận nguồn nước đạt chuẩn và 5 triệu học sinh vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn chưa được tiếp cận công trình cấp nước tập trung.
Ngoài ra, tỷ lệ các công trình hoạt động hiệu quả khoảng 70%, 30% hoạt động kém hiệu quả còn lại chủ yếu là công trình quy mô nhỏ và được đầu tư xây dựng trên 15 năm, thiếu kinh phí duy tu, bảo dưỡng.
Trong khi đó, Việt Nam còn thiếu thể chế chính sách về cấp nước nông thôn, đặc biệt thiếu thông tư quy định và hướng dẫn thực hiện cấp nước an toàn tại nông thôn, bà Nguyễn Thị Hương nêu ý kiến.

Trạm cấp nước Mỹ Thạnh - Hàm Thuận Nam
Thêm vào đó, chưa có văn bản pháp lý quy định về nguồn kinh phí riêng cho việc triển khai và duy trì hoạt động cấp nước an toàn ở nông thôn, một phần do giá nước chưa được tính đúng, tính đủ dẫn đến chi phí cho các hoạt động KHCNAT chưa được bù đắp từ giá nước.
Nhà máy nước Tân Thắng mới nâng công suất lên 2.900 m3 ngày/đêm, đảm bảo cấp nước cho người dân ba xã Tân Thắng, Thắng Hải, Sơn Mỹ nơi “rốn hạn” của tỉnh Bình Thuận. Ảnh: Vụ Nguồn nước và Nước sạch Nông thôn
Dẫn quyết định QĐ 1978/QĐ-TTg ngày 24/11/2021 về cấp nước và vệ sinh môi trường đến năm 2030, tầm nhìn 2045, bà Nguyễn Thị Hương cho biết Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030, 65% dân số nông thôn sử dụng nước sạch đạt chuẩn, số lượng tối thiểu 60 l/người/ngày; tới 2045 toàn bộ người dân nông thôn Việt Nam sẽ được tiếp cận dịch vụ cấp nước sạch đầy đủ, công bằng, an toàn và bền vững.
Về phía các đơn vị cấp nước, đến năm 2025 sẽ có một nửa hệ thống cấp nước nông thôn lập KHCNAT, theo quyết định QĐ 1566/QĐ-TTg ngày 8/9/2016. Vụ Nguồn nước và Nước sạch Nông thôn cũng dự kiến trong giai đoạn 2022-2025, khoảng 1.947 công trình sẽ tiếp tục lập và thực hiện KHCNAT.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam, ông Tôn Tuấn Nghĩa cho biết, hiện nay KHCNAT đang được thực hiện dựa trên tinh thần tự nguyện, nên việc áp dụng chưa đồng đều, bởi các đơn vị cấp nước lớn có điều kiện, còn các công ty cấp nước nhỏ lại e dè, lo sợ thiếu kinh phí để thực hiện và duy trì KHCNAT.
Vì vậy, yếu tố quan trọng để triển khai rộng rãi KHCNAT là phải có cơ sở pháp lý, trong đó quy định thực hiện KHCNAT là điều kiện bắt buộc trong luật nước sạch và các văn bản pháp lý dưới luật.
Bà Nguyễn Thị Hương cho biết, một số văn bản pháp lý về cấp nước an toàn ở nông thôn sẽ được ban hành cuối năm, trong đó có Thông tư hướng dẫn thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn nông thôn (tháng 10/2022), Thông tư hướng dẫn chi tiết các nội dung trong lĩnh vực đầu tư theo hình thức PPP cho lĩnh vực thủy lợi, cung cấp nước sạch (tháng 11/2022).
Ngoài ra, Nghị định quy định cấp nước sinh hoạt nông thôn đang được xây dựng và sẽ trình Thủ tướng trong tháng 11/2022.
Hội Cấp Thoát nước Việt Nam chúc mừng Tạp chí Cấp Thoát nước Việt Nam nhân dịp 21/6
Cấp nước an toàn và chống ngập cần được đưa vào đánh giá rủi ro khí hậu đô thị
Đọc thêm
Hà Nội: Tăng tốc thi công các dự án chống ngập nhằm kịp ứng phó mùa mưa bão
Vượt qua nhiều trở ngại về thời tiết cùng điều kiện giao thông và điều kiện thi công tại nội đô, Trung tâm Quản lý hạ tầng kỹ thuật thành phố Hà Nội cùng các nhà thầu đang tập trung tăng tốc triển khai các dự án xử lý úng ngập cục bộ tại Hà Nội, quyết tâm hoàn thành các hạng mục trọng điểm vào đầu tháng 6.
Công ty CP Cấp nước Hải Phòng: Ứng dụng công nghệ, bảo đảm cấp nước an toàn cho người dân
Sự phát triển nhanh của các khu đô thị và công nghiệp tại Hải Phòng đặt ra yêu cầu ngày càng cao về nguồn nước sạch ổn định, an toàn. Đón đầu nhu cầu ấy, Công ty CP Cấp nước Hải Phòng đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào vận hành, góp phần bảo đảm an sinh và nâng cao chất lượng sống người dân.
SAWACO diễn tập ứng phó sự cố rò rỉ khí Clo tại nhà máy nước
Sáng 28/5/2026, Công ty CP Đầu tư và Kinh doanh Nước sạch Sài Gòn (SWIC) thuộc Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn (SAWACO) đã tổ chức diễn tập ứng phó sự cố rò rỉ khí Clo tại nhà máy nước nhằm nâng cao năng lực xử lý tình huống khẩn cấp, bảo đảm hoạt động cấp nước an toàn, ổn định và liên tục cho người dân.
SAWACO chủ động ứng phó xâm nhập mặn, bảo đảm cấp nước cho TP.HCM
Tình trạng xâm nhập mặn tại khu vực Nam Bộ và TP.HCM đang có xu hướng diễn biến phức tạp dưới tác động của biến đổi khí hậu, hạn hán và thủy triều. Trước thực tế này, Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn TNHH MTV (SAWACO) triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo đảm cung cấp nước sạch ổn định cho người dân TP.HCM.
An ninh nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long từ Kết luận 26 của Bộ Chính trị
Kết luận số 26-KL/TW của Bộ Chính trị đặt vấn đề phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong một cách tiếp cận rộng hơn. Trọng tâm không chỉ là ứng phó từng đợt hạn, mặn, mà là bảo đảm an ninh nguồn nước cho cả vùng trong giai đoạn 2026 - 2035.
VWSA lưu ý hội viên về quy định xử phạt liên quan chất lượng nước sạch sinh hoạt
Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA) thông tin tới các đơn vị hội viên một số nội dung liên quan lĩnh vực cấp nước sinh hoạt trong Nghị định số 90/2026/NĐ-CP của Chính phủ, trong đó có quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt.
Bảo đảm an ninh nguồn nước trước mục tiêu tăng trưởng xanh
Tăng trưởng xanh, cam kết Net Zero và tiêu chuẩn ESG đang đặt ngành Nước trước yêu cầu chuyển đổi chưa từng có. Trong khi đó, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và đô thị hóa lại tác động trực tiếp đến an ninh nguồn nước tại Hà Nội và nhiều địa phương. Thực tế này đòi hỏi các nhóm giải pháp đồng bộ và dài hạn hơn.
Phía Nam Hà Nội rà soát phương án tiêu úng trước mùa mưa
Công ty TNHH MTV Đầu tư phát triển thủy lợi sông Đáy đang đề xuất lắp đặt, thay thế một số tổ máy bơm dã chiến để hỗ trợ tiêu nước cho lưu vực trạm bơm Triều Đông, khu vực có khoảng 430ha gặp khó khăn về tiêu thoát nước.
Cà phê, hồ tiêu “khát nước” giữa mùa khô Tây Nguyên
Nắng hạn gay gắt khiến ao hồ ở Gia Lai và nhiều vùng Tây Nguyên cạn trơ đáy, hàng nghìn hecta cà phê, hồ tiêu rơi vào cảnh “khát nước”. Người dân phải chắt chiu từng giọt, đào sâu lòng hồ tìm mạch ngầm cứu cây, nhưng nguồn nước ít ỏi không đủ, nguy cơ mất trắng mùa vụ ngày càng hiện hữu.