Nhiệt độ
Đánh giá, đề xuất giải pháp quản lý nguồn nước mặt cho các nhà máy nước tại Hải Dương
Ngày 26/3, Viện Cấp Thoát nước và Môi trường (IWASSE) tổ chức hội thảo khoa học "Giới thiệu về nghiên cứu, kế hoạch triển khai, và một số kết quả ban đầu nghiên cứu nội nghiệp" tại Chi nhánh Sản xuất nước Cẩm Thượng – Công ty CP Kinh doanh nước sạch Hải Dương.
Viện Cấp Thoát nước và Môi trường (IWASSE) tổ chức hội thảo khoa học "Giới thiệu về nghiên cứu, kế hoạch triển khai, và một số kết quả ban đầu nghiên cứu nội nghiệp".
Đây là hoạt động của đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh: "Đánh giá rủi ro và đề xuất giải pháp quản lý nguồn nước mặt nhằm đảm bảo an toàn cấp nước cho các nhà máy nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương". Đề tài thực hiện trong hai năm 2025-2026, với hai mục tiêu cần đạt: (i) Đánh giá được rủi ro nguồn nước mặt phục vụ cấp nước cho các nhà máy nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương. (ii) Đề xuất được giải pháp quản lý nguồn nước mặt nhằm đảm bảo an toàn cấp nước cho các nhà máy nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Hội thảo có sự tham dự của khoảng 30 đại biểu đến từ các Sở ngành, Công ty CP Kinh doanh nước sạch Hải Dương, Công ty CP Nước sạch và Vệ sinh nông thôn tỉnh Hải Dương cùng đại diện các chi nhánh cấp nước, công ty cấp nước tư nhân, các nhà khoa học, nhà quản lý và đơn vị chủ trì.
Tại hội thảo, nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số phát hiện ban đầu về xây dựng ma trận rủi ro của các nhà máy nước (NMN) trong quá khứ, đánh giá sức chống chịu của hạ tầng khai thác, hiện trạng khu vực bảo hộ nước sinh hoạt, hiện trạng và xu thế nguồn nguy cơ gây rủi ro nguồn nước. Những kết quả này dựa trên nghiên cứu nội nghiệp, tham vấn các bên liên quan, khảo sát thực địa tại các nhà máy nước, khu vực khai thác nước trên 10 sông tự nhiên trong địa bàn tỉnh Hải Dương.
Thay mặt nhóm nghiên cứu, PGS.TS. Đoàn Thu Hà – Chủ nhiệm đề tài, tóm tắt những kết quả nổi bật trong giai đoạn đầu nghiên cứu.
Theo đó, nguy cơ rủi ro nguồn nước trên các sông tự nhiên cung cấp nước cho hệ thống cấp nước tỉnh Hải Dương đang chịu áp lực rất lớn kết hợp bởi nhiều yếu tố như phát triển lưu vực, liên tỉnh và nội tại của tỉnh và biến đổi khí hậu;
Kết quả ma trận rủi ro trong quá khứ của các NMN cho thấy nhóm nguyên nhân đến từ thiên tai ảnh hưởng lớn nhất, tiếp đến nhóm nguyên nhân từ ô nhiễm nguồn nước, và sự cố. Ba sông có rủi ro trong quá khứ lớn nhất gồm sông Thái Bình, Kinh Thầy, Luộc;
Về hạ tầng khai thác nước tham chiếu khía cạnh rủi ro nguồn nước, hầu hết nhà máy nước chưa có tính chống chịu cao do thiếu các hạ tầng dự phòng, quan trắc tự động, cảnh báo sớm và hạ tầng khai thác ở một số NMN đã bị tác động bởi các thiên tai;
Về vùng bảo hộ nguồn nước, hầu hết các vùng bảo hộ nguồn nước đều bị xâm phạm trong hoặc lân cận bởi một hoặc nhiều hơn 2 nguồn gây ra nguy cơ rủi ro nguồn nước;
Về xâm nhập mặn, ranh mặn 250 mg/l được nhóm nghiên cứu xác định dựa trên kết quả tham vấn cho thấy một số nhà máy nước khu vực Tx.Kinh Môn, Tứ Kỳ, Thanh Hà, Kim Thành đã bị tác động bởi xâm nhập mặn, xu hướng mặn xâm nhập sâu, như trên các sông Thái Bình, Luộc, và Đá Vách;
Đáng chú ý, về ô nhiễm nguồn nước, dựa trên kết quả đo chất lượng nước thô đầu vào từ các Công ty cấp nước cung cấp năm 2024, nhóm nghiên cứu phân tích và chỉ ra dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ với giá trị BOD5, COD, T_N, T_P, Colifrom vượt Quy chuẩn cho phép ở Mức A của QCVN08:2023/BTNMT từ 2 đến 8 lần.

Ông Lê Lương Thịnh, Phó giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương đánh giá cao kết quả ban đầu của nhóm nghiên cứu
Phát biểu chỉ đạo hội thảo, ông Lê Lương Thịnh, Phó giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương đánh giá cao kết quả ban đầu của nhóm nghiên cứu.
Ông Lê Lương Thịnh cho biết: "Ban đầu nghiên cứu này đề xuất tập trung ở khu vực thành phố Hải Dương nhưng với tính cấp thiết của chủ đề nghiên cứu, Sở đề xuất nhóm nghiên cứu mở rộng phạm vi nghiên cứu cho toàn tỉnh".
Nghiên cứu được kỳ vọng sẽ giúp cho tỉnh Hải Dương có thêm cơ sở khoa học xây dựng giải pháp đảm bảo cấp nước an toàn, an ninh nguồn nước; và cơ sở xây dựng quản lý rủi ro nâng cao tính chống chịu tại các doanh nghiệp cấp nước trên địa bàn tỉnh.

Ông Nguyễn Ngọc Điệp, Chủ tịch Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA) phát biểu tại hội thảo
Về phía đơn vị chủ trì, ông Nguyễn Ngọc Điệp, Chủ tịch Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA) trân trọng cảm ơn lãnh đạo tỉnh Hải Dương cùng các Sở ban ngành và công ty đã tin tưởng giao cho IWASSE thực hiện đề tài này.
Ông Nguyễn Ngọc Điệp yêu cầu nhóm nghiên cứu tiếp tục nỗ lực, nghiêm túc thực hiện đề tài để đưa ra kết quả có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. "Đây được xem là đề tài điển hình, mới về nghiên cứu rủi ro nguồn nước cho cấp nước ở Việt Nam", Ông Điệp cho biết.
Ở góc độ đơn vị thụ hưởng kết quả đề tài, ông Nguyễn Thanh Sơn – Tổng giám đốc Công ty CP Kinh doanh nước sạch Hải Dương cho biết, Công ty rất quan tâm đến kết quả đề tài, sẽ phối hợp chặt chẽ với nhóm nghiên cứu, hỗ trợ số liệu, thông tin cho nhóm nghiên cứu. Ông Sơn kỳ vọng kết quả của nhóm nghiên cứu công ty sẽ xây dựng các giải pháp quản lý rủi ro cho các nhà máy nước của công ty ở hiện tại và giai đoạn năm 2030-2050.
Kết thúc hội thảo, ông Lê Lương Thịnh, Phó giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương đề nghị các bên liên quan phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài.
Khiêm Anh
Vật liệu tăng giá: Thách thức mới với ngành sản xuất ống nhựa và hạ tầng cấp thoát nước
Tiếp đà xây dựng kế hoạch hành động về bình đẳng giới tại ngành Nước Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030
Chủ tịch HĐTV SAWACO Dương Hồng Nhân: "Tinh gọn bộ máy, phát huy sức mạnh hệ thống chính trị để vươn tầm chuyên nghiệp"
Ống nhựa PPR DEKKO: Từ vật liệu kỹ thuật đến “lời giải” cho “bài toán” cấp nước sạch cho nhiều công trình hạ tầng
53 năm Thoát nước Hà Nội: Dấu ấn bền bỉ của “người giữ mạch ngầm” Thủ đô
Đọc thêm
SAWACO sơ kết 6 tháng triển khai chương trình phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Trung tuần tháng 3/2026, Đảng ủy Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn (SAWACO) đã tổ chức Hội nghị sơ kết 6 tháng triển khai Chương trình hành động số 04-CTr/ĐU và 08-CTr/ĐU.
Đánh giá đặc điểm và ứng dụng của Eco-Enzyme được sản xuất từ vỏ họ quả Citrus
Bài báo này trình bày nghiên cứu về ứng dụng của Eco-Enzyme trong việc giảm thiểu cục bộ ô nhiễm nước.
Giải pháp kỹ thuật khắc phục khiếm khuyết dữ liệu công tác mô hình hóa hệ thống truyền tải nước sạch *
Mô hình mô phỏng hoạt động của hệ thống phân phối nước một cách gần đúng, cho phép đánh giá hiệu suất vận hành, tối ưu hóa chi phí và đảm bảo an toàn cấp nước trong nhiều kịch bản khác nhau.
AI và “cơn khát nước” của nền kinh tế số
Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo đang kéo theo nhu cầu khổng lồ về điện và nước cho các trung tâm dữ liệu. Đằng sau tăng trưởng của nền kinh tế số là “dấu chân nước” ngày càng lớn, đặt ra thách thức mới đối với quản trị tài nguyên và phát triển bền vững.
Lời giải kỹ thuật cho bài toán vận hành hệ thống cấp nước Quảng Ninh
Việc ứng dụng phối hợp các giải pháp hệ thống giám sát và thu thập giữ liệu (SCADA) - thông tin địa lý (GIS) - phân vùng (DMA) chính là lời giải kỹ thuật cho bài toán vận hành hệ thống cấp nước Quảng Ninh, giúp công tác quản lý chuyển từ phản ứng khi có sự cố sang chủ động giám sát - kiểm soát - tối ưu.
Khi dữ liệu trở thành điều kiện sống còn của ngành cấp nước
Trong bối cảnh áp lực tài chính gia tăng và yêu cầu minh bạch ngày càng cao, ngành cấp nước Việt Nam đang đứng trước đòi hỏi phải chuẩn hóa dữ liệu vận hành. NewIBNET không chỉ là công cụ so sánh quốc tế, mà đang trở thành nền tảng giúp doanh nghiệp nâng cao quản trị và củng cố năng lực tiếp cận nguồn vốn.
Người “gieo” sáng kiến trong quản trị nước sạch đô thị
Từ những cải tiến cụ thể như tích hợp dữ liệu GIS, giám sát SCADA đến tối ưu điều tiết áp lực, hành trình “gieo sáng kiến” của người kỹ sư ngành Nước đang góp phần hình thành nền tảng trí tuệ cho quản trị hệ thống cung ứng nước sạch.
Tư vấn lựa chọn máy ép bùn hiệu quả cho nhà máy cấp nước
Trong hệ thống xử lý nước cấp hiện đại, máy ép bùn được xem là thiết bị không thể thiếu, phát huy hiệu quả trong việc giảm thể tích bùn. Từ đó giúp tối ưu hóa chi phí vận hành và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường.
Tối ưu chi phí xử lý bùn thải cho doanh nghiệp ngành Nước và Môi trường
Trong vận hành hệ thống xử lý nước thải, bùn thải đang là một trong những hợp phần tiêu tốn chi phí, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả vận hành và tính bền vững của các công trình. Việc ứng dụng các giải pháp tối ưu về công nghệ và hiệu quả kinh tế trong xử lý bùn thải trở thành vấn đề cấp thiết.