Nhiệt độ
Đảm bảo nguồn nước sạch ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Từ bao lâu nay, người nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã quen cách biến mùa nước nổi thành lợi thế phát triển kinh tế. Mùa mưa lũ về đem lại cơ hội đánh bắt thủy sản và bồi đắp lại phù sa cho đồng ruộng. Nhưng bắt đầu từ năm 2014, cách làm này đã thay đổi.
Họ không thể dựa vào lượng thủy sản được mùa lũ mang lại nữa, vì biến đổi khí hậu đã khiến cơn mưa trở nên bất thường. Thay vào đó, bà con nông dân đã quây ruộng, ngăn lũ và biến những vùng trũng của khu vực trở thành những đồng ruộng màu mỡ. Phải chăng đây là phương án tối ưu, khi biến đổi khí hậu đang tiếp tục đe dọa nguồn nước sạch cần thiết cho chính mùa vụ trồng lúa?
Biến đổi khí hậu đe dọa hệ thống cấp nước nông thôn
Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, ĐBSCL hiện có khoảng 360 đến 400 nhà máy nước và trạm cấp nước tập trung với tổng công suất là 1.153.580 m3 mỗi ngày, cấp cho các đô thị và một số khu công nghiệp trong vùng, trong đó có 30-35% nhà máy khai thác nguồn nước ngầm và 65-70% nhà máy sử dụng nguồn nước mặt. Tuy nhiên, các hệ thống cấp nước này chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu của người dân địa phương. Tỷ lệ cấp nước cao nhất là 95,5% tại Trà Vinh và chỉ có 50,4% tại Bến Tre.
Biến đổi khí hậu chính là một thách thức lớn với hệ thống cấp nước sinh hoạt nông thôn ở ĐBSCL. Phát biểu tại hội thảo “Giải pháp cấp nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu,” ông Michael Waters, kỹ sư nguồn nước đại diện cho Ngân hàng Thế Giới tại Hội thảo Giải pháp Cấp nước vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu trong khuôn khổ Vietwater 2021, nói: “Tại một số khu vực ở ĐBSCL, phần lớn nguồn nước được khai thác từ các mạch nước ngầm. Nhưng trong những năm gần đây, nguồn nước này đã giảm đến 30m ở một số địa phương.” Mối quan tâm chính hiện nay chính là tính bền vững của việc khai thác nước ngầm cho các vùng nông thôn ở ĐBSCL.
Cũng theo ông Michael Waters, biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng tới hệ thống cấp nước qua hai quá trình chính: các biến đổi về khí tượng thủy văn (nhiệt độ, lượng mưa) và mực nước biển dâng. Hai quá trình này làm trầm trọng hóa các nguy cơ trực tiếp ảnh hưởng hệ thống thoát nước nông thôn. Hạn hán, sạt lở đất, ngập lụt, xói mòn, xâm nhập mặn và ô nhiễm đều có khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn nước tiềm năng cho các nhà máy và trạm cấp nước nông thôn. Các nguy cơ được tổng hợp trong phần trình bày của ông Michael Waters như sau:
Hạn hán làm tăng nhu cầu khai thác nước của người dân, đặc biệt là việc sử dụng máy tưới lúa. Các rủi ro sạt lở đất, xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước cũng tăng lên. Đặc biệt, theo Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam (2016), nguy cơ hạn hán do khí tượng ở Cà Mau đang diễn biến xấu đi và dự kiến sẽ nghiêm trọng hơn vào năm 2050.
Sạt lở đất có thể làm tăng nguy cơ lũ lụt và xâm nhập mặn. Mặc dù bị ảnh hưởng ít nhiều vì BĐKH, nhưng sạt lở đất cũng trở nên nghiêm trọng hơn vì sự khai thác quá mức nguồn nước ngầm của người dân.
Ngập lụt dẫn đến những rủi ro làm gián đoạn hoạt động cấp nước, ví dụ như việc ngập hố khoan, giếng, máy bơm,…khiến chúng không thể vận hành và khó được sửa chữa.
Xói mòn ven sông ngày càng nghiêm trọng do lũ lụt và khiến công suất kênh tăng lên và sự xâm nhập mặn trở nên nghiêm trọng hơn.
Xâm nhập mặn là vấn đề nghiêm trọng của các khu vực cửa sông và bán đảo, khiến nguồn nước ngọt nhiễm mặn và không thể sử dụng trong sinh hoạt và sản xuất.
Ô nhiễm nguồn nước mặt do chính nước thải từ các khu vực đô thị và công nghiệp gây ra khi chúng bị tắc lại từ các rào cản dòng chảy (như cổng ngăn mặn).
Theo đánh giá của Trung tâm Quốc tế về Quản lý Môi trường (ICEM), biến đổi khí hậu sẽ ngày càng khiến các nguy cơ trên xảy ra thường xuyên hơn và trầm trọng hơn, dẫn tới tình trạng thiếu nước hiện nay của người dân càng trở nên cấp thiết hơn.
Trong bối cảnh này, các giải pháp thuận thiên trong nông nghiệp là vô cùng cần thiết.

Mối quan tâm chính hiện nay là tính bền vững của việc khai thác nước ngầm cho các vùng nông thôn ĐBSCL
Lấy người dân làm trung tâm để phát triển bền vững
Ông Lê Minh Hoan, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nhận định Nghị quyết số 120/NQ-CP do Chính phủ ban hành năm 2017 đã thúc đẩy một khởi đầu mới với ĐBSCL và được người dân tại đây nhiệt tình đón nhận. Ngành nông nghiệp chính là ngành tiếp thu và thực hiện rõ nét nhất những ý tưởng sáng tạo, quan điểm chỉ đạo của Chính phủ trong văn bản này. Ý kiến của Bộ trưởng Lê Minh Hoan đã được phản ánh rất rõ ràng qua việc thử nghiệm với các mô hình sinh kế dựa vào mùa nước nổi để khôi phục con lũ trong dự án “Mô hình sinh kế dựa vào mùa nước nổi hỗ trợ chiến lược lưu trữ lũ tại đồng bằng sông Cửu Long” do chương trình IUCN thực hiện tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp và Long An.
“Lúa gạo là ngành hàng tốn nhiều nước. Trong điều kiện biến đổi khí hậu, điều kiện tài nguyên nước của dòng sông Mê Công không còn như ngày xưa nữa”, ông Hoan chia sẻ.
Để trả lời cho bài toán thiếu nước của dòng sông Mê Công, dự án đã áp dụng các mô hình sinh kế dựa vào nước lũ sao cho phù hợp nhất với điều kiện của từng địa phương. Các mô hình đó bao gồm: du lịch sinh thái sen, mô hình kết hợp cá - sen, lúa mùa nổi, nuôi cá mùa lũ và các loại cây rau nổi khác nhau (ấu, hẹ nước...). Nhờ đó bà con thu nhập ổn định trong các mùa lũ, đồng thời, giúp đất trồng nghỉ ngơi và tạo điều kiện để nước lũ bù đắp lại phì nhiêu. Người nông dân có thể tăng thu nhập từ 25%-150% so với khi không tận dụng mùa nước nổi.
“Sự tuần hoàn và đan xen của các ngành hàng trong một năm cũng làm phục hồi hệ sinh thái hay phục hồi dinh dưỡng đất đai. Đất đai sẽ tốt hơn, giảm áp lực phải dùng các loại phân bón hay hóa chất, giảm chi phí cho người nông dân cũng như tạo ra các nông sản sạch, có giá trị cao hơn, an toàn vệ sinh thực phẩm,” Bộ trưởng Hoan cho biết thêm.
Tại xã Tân Kiều huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp, người dân đã được tập huấn kéo miết tơ sen lấy sợi và kiến thức về kỹ thuật trồng sen. Còn ở xã Vĩnh Châu B, Vĩnh Thạnh và Vĩnh Lợi thuộc huyện Tân Hưng tỉnh Long An, mô hình trồng sen lấy ngó đã đem lại lợi nhuận trung bình 29,3 triệu đồng/ha.
Các sản phẩm tiểu thủ công này hiện đang trong giai đoạn sơ khai và còn có thể phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
Vật liệu đồng bộ - yếu tố then chốt đảm bảo hệ thống cấp thoát nước bền vững
NewIBNET và chuyển đổi số: Lấy dữ liệu làm nền tảng nâng cao hiệu quả doanh nghiệp ngành Nước
Tối ưu chi phí xử lý bùn thải cho doanh nghiệp ngành Nước và Môi trường
SAWACO chủ động bảo đảm cấp nước an toàn, ổn định dịp Lễ, Tết và mùa khô năm 2026
Đọc thêm
Siết chặt một số quy định trong quản lý tài nguyên nước
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 23/2026/NĐ-CP ngày 17/01/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định trong lĩnh vực tài nguyên nước.
SAWACO chủ động bảo đảm cấp nước an toàn, ổn định dịp Lễ, Tết và mùa khô năm 2026
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của người dân TP.HCM tiếp tục tăng cao, đặc biệt trong các dịp Lễ, Tết và mùa khô, Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn – TNHH MTV (SAWACO) đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm bảo đảm cấp nước an toàn, liên tục.
Giữ mạch nguồn nước sạch cho đô thị mang tên Bác
Biến đổi khí hậu, ô nhiễm nguồn nước và đô thị hóa nhanh đang đặt ra thách thức lớn đối với an ninh nước đô thị. Trong bối cảnh đó, năm 2025 ghi dấu những nỗ lực của SAWACO trong việc hiện đại hóa hệ thống và bảo đảm nguồn nước sạch bền vững cho Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM).
Ống dẫn nước sạch - “xương sống” quan trọng của đô thị hiện đại
Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng và định hướng phát triển bền vững, hệ thống cấp nước đóng vai trò then chốt, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khỏe cộng đồng và sự phát triển kinh tế. Đằng sau những dòng nước sạch chảy về từng hộ gia đình là một mạng lưới “xương sống” được hình thành từ các tuyến ống dẫn nước.
Đánh giá khả năng dễ bị tổn thương tài nguyên nước lưu vực sông Ba*
Nghiên cứu đánh giá chỉ số dễ bị tổn thương tài nguyên nước (VI) trên lưu vực sông Ba nhằm đề xuất các giải pháp đảm bảo an ninh nguồn nước, đặc biệt là nước sinh hoạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH).
Hoàn thiện cơ chế định giá nước sạch theo phương pháp định giá chung
Thông tư số 145/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn áp dụng phương pháp định giá chung đối với nước sạch đã làm rõ nguyên tắc xác định giá thành lợi nhuận và giá bán. Cách tiếp cận này tạo sự thống nhất trong xây dựng thẩm định và điều hành giá nước sạch theo Luật Giá năm 2023 và định hướng phát triển bền vững ngành Cấp Thoát nước.
Nâng cấp hồ Tha La hướng tới an ninh nguồn nước bền vững
Sau hai năm triển khai dự án nâng cấp với tổng vốn đầu tư 280 tỷ đồng, hồ thủy lợi Tha La (Tây Ninh) đã hoàn thiện và sẵn sàng bàn giao vận hành. Công trình không chỉ củng cố an ninh nguồn nước cho hạ du mà còn mở ra hướng tiếp cận bền vững trong quản lý, khai thác hồ chứa đa mục tiêu.
Đồng Nai nâng chuẩn nước sạch nông thôn
Trong tiến trình xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển bền vững, Đồng Nai xác định nước sạch là hạ tầng nền tảng, tác động trực tiếp đến sức khỏe và chất lượng sống. Trên cơ sở nghị quyết của Đảng bộ tỉnh và chính sách của Chính phủ, địa phương đẩy mạnh đầu tư, đồng thời hoàn thiện cơ chế quản lý, vận hành bền vững.
Phát thải khí nhà kính trong hệ thống cấp nước Đồng bằng Sông Cửu Long
Để xác định nguồn phát thải khí nhà kính từ hệ thống cấp nước, nghiên cứu thu thập, tổng hợp, phân tích dữ liệu của các đơn vị cấp nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long sau đó tính toán lượng phát thải khí nhà kính và phân tích tiềm năng ứng dụng điện mặt trời cho một trường hợp cụ thể.