Nhiệt độ
Các vị vua triều Nguyễn luận chuyện nước lụt
Nước ta năm nào cũng gặp cảnh lũ lụt, nên từ hàng nghìn năm nay, cư dân miền Bắc đã biết đắp đê ngăn nước. Nhưng điều này không được triều Nguyễn tán thưởng.

Vua Tự Đức (1829-1883) của triều Nguyễn đã nhiều lần lên tiếng bài bác chuyện đắp đê, thậm chí hạ bút phê phán đoạn chép về việc đắp đê trong sử thời trước. Tuy nhiên các vua triều Nguyễn đều được đào tạo khá cẩn thận về kiến thức thiên văn, thời tiết, nên có nhiều lần bàn luận về nước lụt rất xác đáng.
Điển hình như vào mùa thu năm Minh Mạng thứ 20 (1839), theo bộ sử “Đại Nam thực lục” thì trước khi nước lụt về kinh thành vài hôm, khi ra coi chầu, vua Minh Mạng (1791-1841) đã bảo Kinh doãn (quan cai quản kinh thành) là Phạm Thế Trung rằng: “Ngạn ngữ nói ‘Trời sắp mưa lụt, cứ nghiệm các giống chim trở về núi thì biết’. Xét ra, mưa lụt thì sóng biển nổi lên ỳ ầm, hơi nước bốc lên tanh hôi, các chim đều kiếm ăn ở bờ biển cho nên tránh về núi. Câu nói ấy cũng có lý. Trẫm đoán mùa thu này mưa lụt có thể vào trước sau ngày 24, 25, không biết lúa má ở Kinh đã thu hoạch xong chưa?”.
Thế Trung thưa rằng lúa thu hoạch mười phần đã được tám, chín phần. Vua nói: “Mùa màng đã xong, mưa lụt chẳng sao”. Sau đó quả nhiên mưa.
Vua lại dụ cho quan Kinh doãn rằng: “Thấy nước lụt, ta sinh buồn, ngắm trăng không vui, băn khoăn về đường sinh sống của dân, ngủ không yên giấc! Các người nên thể theo ý ta, tùy nghi chẩn cấp, khiến cho những tiểu dân cùng khốn chóng được khởi sắc, nhà cửa đổ nát tu bổ lại dần dần. Còn những người vô tội mà bị chết đuối, càng đáng thương xót, cũng nên liệu cấp tiền tuất để cùng được đội ơn. Phàm những dân đói đến ăn, đều là con đỏ của triều đình, không cứ hạt nào, có thể chẩn cấp cho cả một loạt”.
Cũng trong bộ sử này, ghi lời vua Thiệu Trị (1807-1847) kể lại cho các quan lời dạy của vua cha (Minh Mạng) về vấn đề lũ lụt ở kinh thành: “Hoàng khảo dụ tận mặt cho ta biết rằng: Về phương Nam, xét đến sử sách các đời để lại, ít động đất mà nhiều gió to. Năm Gia Long thứ 10 (1811), năm Minh Mạng thứ 8 (1827), đều có một lần bão. Gần đây, xem khí trời và sắc gió, rất sợ vài năm sau, không khỏi có tai hại về bão lụt, hình như khí vận xui nên thế! Phải nên cẩn thận tu tỉnh lấy mình mới có thể cầu đảo mà tránh đi được. Ta bái lĩnh lời minh huấn, cẩn thận lưu tâm, chưa đầy 4 năm, quả nhiên có bão lụt. Thực là bậc thánh nhân biết trước cơ trời, mưu cho con cháu. Nói đến đây ta rất đau lòng, cảm động đến chảy nước mắt!“.

Vào thời vua Tự Đức (1829-1883), năm 1878, đến tháng 11 âm lịch, kinh thành Huế vẫn có mưa lụt luôn mấy ngày, bộ Lễ tâu lên vua xin làm lễ cầu tạnh. Tuy nhiên nhà vua cho là khí hậu hơi muộn, việc cấy lúa của nhà làm ruộng còn chậm, không cho cầu đảo nhàm, nên dụ cho bộ Lễ rằng: “Lúc ngày thường biết ở chỗ nhà kín không hổ thẹn, thì thần minh ngày ngày soi xét cho ở đó, cầu đảo đã lâu rồi, nếu ngày thường không việc gì là không làm, khi có việc mới cầu thần, cách ấy kém lắm”.
Lời bàn của vua Tự Đức vào năm 1879, cho thấy chủ ý của ông về vấn đề trị thủy chống lụt. Mùa thu năm ấy, mưa lớn, đê điều các tỉnh miền Bắc từ Sơn Tây, Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng Yên đến Nam Định nhiều nơi vỡ, quan các tỉnh đều dâng sớ tâu bày về nước sông. Nhà vua xem tập sớ, dụ rằng: “Tính của nước là chảy xuống chỗ thấp, trị thủy phải thuận theo tính của nước, khơi ra thì thông, lấp lại thì vỡ. Cho nên, xưa vua Vũ khơi đi mà thành công, ông Cổn ngăn lại mà thất bại. Kế hay nhất về việc trị sông của Giả Nhượng, cũng chỉ nhường cho nước chảy, dời dân đi mà thôi, chứ không có kế lạ gì khác. Gần đây, các tỉnh đều giữ ý kiến về giới hạn, chỉ nghĩ tiện cho mình, không tính đến lợi hại của cả sông, rốt cuộc cũng nhọc tốn mà không được việc, năm ấy năm khác chỉ thêm hại cho dân, đều do lấy sức làm cưỡng, không yên theo tự nhiên, làm cho được vô sự. Năm nay nước lụt rút xuống nên ở thượng du, đê chỗ nào thực có thể giữ được nguồn sống của dân, thì hãy nén đắp lấp lại, còn thì không nên đắp cưỡng, các đê bối đều bãi bỏ tất cả, cho nước chảy đi. Lại sai dân tùy thời dự tránh đi trước, xem một vài năm dòng sông chảy thuận đi thế nào, sẽ làm kế hay, chớ khiến dân đã khốn khổ về nước, lại khốn khổ về đê, nuôi của sức của dân, để dùng về sau này. Đó là rất thỏa đáng, quan địa phương chớ giữ ý kiến riêng của mình mà làm cưỡng”.
Cũng thời vua Tự Đức, khi đê nhỏ bằng cát ở tỉnh Hưng Yên bị vỡ, một số huyện như Khoái Châu, Kim Động, Phù Cừ, Tiên Lữ ngập mất lúa chiêm và nước xói vào một số xã thuộc Bắc Ninh phía bờ bên kia, Thượng thư bộ Hình là Phạm Thận Duật đã tâu rằng: “Cái thế sông Nhị Hà chảy xuống Biển Đông, thực không thể ngăn được, thì cái đê nhỏ bằng cát thường vỡ ấy không thể lấp cưỡng được. Nghĩ nên bỏ mặc, cho đường nước chảy được rộng. Duy nay chỗ vỡ đã cho chảy thông, thì cái đê nhỏ riêng hạt Hải Dương ở về hạ lưu ngăn trở đường sông, như đê nhỏ ở tổng Phú Mễ, tưởng nên mở ở chỗ khác ra vài trăm trượng, cho nước theo đó chảy nhanh đến các ngã ba sông Quang Dực, Chanh Xuyên để chảy ra cửa biển Thái Bình. Lại ở hai cửa sông Phần, sông Kinh cũng nên cho khơi thông, để nước theo đó chảy đến sông Hàm Giang rồi chảy ra các cửa biển Ngải Am, Văn Úc. Như thế thì nước sông Nhị Hà có chỗ chảy chia đi, có thể không ngại lắm”.
Tuy nhiên, khi nghe lời tâu của vị Thượng thư, vua Tự Đức đã bảo rằng: “Giữ nước sông khó được toàn lợi cả, như nói nước lụt bị nước triều ngăn trở, thì ví như khoảng mùa hạ, hằng ngày thường có gió đông ganh đua với gió nam, khi gió đông mạnh thì tự nhiên mát mẻ khoan khoái. Nay nếu có thể làm cho nước lụt chảy nhanh, thì nước triều tự nhiên lui đi. Tóm lại, vì cửa biển rất xa, khoảng giữa phần nhiều làm đê điều ngăn lấp quanh co, đến nỗi dòng nước không chảy nhanh, tự nhiên và ra chẳng ở chỗ này, thì ở chỗ kia”.

Nhà vua còn bổ sung: “Nhớ lại từ lúc mới giữ nước sông, khai dòng sông Chiêm Đức (tức Thiên Đức), là muốn cho nước sông chảy về mạn đông, cho nên tỉnh Hải Dương trước không có đê giữ nước sông mà nay thì có, tỉnh Hà Nội trước thường bị hại mà nay thì yên. Là bởi sông mất đường cũ, không theo ngành chính chảy về Nam Định, tất phải chảy về Hải Dương, mà vỡ ngang ra. Người giữ nước sông phải xem tất cả các chằm ngòi sông biển trong cả xứ, chỗ nào cao, chỗ nào thấp, chỗ nào nhẹ, chỗ nào nặng mới được. Nói phải rõ ràng, làm phải có công hiệu, đâu có đều chia giới hạn, chỗ này thì lấp, chỗ kia thì khơi; đến nỗi 10 năm nay thường vỡ không ngăn được, chẳng phải là lỗi của các quan ư? Trẫm không thể đi đến tận nơi, mắt được trông thấy, vì dân tính kỹ kế hay an toàn, thực rất tiếc lắm. Nay giao cho bộ Công chép ra giao 3 tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh phải cùng lòng bàn tính thế nào cho xứng ý trẫm”.
Trong trận lụt ở kinh thành năm Tự Đức thứ 33 (1880), vị vua này cũng có lời bàn khá sát sao về chuyện khơi dòng cho nước chảy. Khi đó, vua bảo bộ Công rằng: “Các cống tiêu nước ở bên trong, bên ngoài hoàng thành, cung thành, Kinh thành, lâu ngày bị lấp, để nước mưa ứ nhiều, bộ thông sức cho đều phải khơi thông. Lại như các nha thự, đường sá, chỗ nào thấp ướt, đều bồi đắp cao phẳng, để tiện ở và đi. Ty Công chính nên thường xem xét chớ quên”.
Từ lời vua Tự Đức, có thể thấy nhà vua am hiểu khá tường tận về vấn đề kênh mương, tiêu nước và thoát nước.
20 mũi thi công khẩn trương bổ cập nước cải tạo sông Tô Lịch và chống ngập đô thị
VIWASEEN kiện toàn bộ máy lãnh đạo tại Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026
Ứng cử viên HĐND TP.HCM Lê Quốc Tuấn với định hướng nâng cao hiệu quả quản lý đô thị
BVG tiếp tục đồng hành cùng Giải xe đạp nữ quốc tế TP.HCM - Cúp BIWASE 2026
Đọc thêm
Giáo sư Trần Thị Việt Nga nhận Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025
Giải thưởng Kovalevskaia năm nay được trao cho GS.TS. Trần Thị Việt Nga, Viện trưởng Viện Công nghệ cao Việt Nhật, giảng viên cao cấp Khoa Kỹ thuật Môi trường, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội.
Hội Cấp Thoát nước Việt Nam dâng hương tưởng niệm Vua Hùng
Nhân dịp Xuân mới Bính Ngọ 2026, Hội Cấp Thoát nước Việt Nam đã đến Khu di tích lịch sử Đền Hùng (tỉnh Phú Thọ) để dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng - những bậc tiền nhân đã có công dựng nước.
Ứng cử viên HĐND TP.HCM Lê Quốc Tuấn với định hướng nâng cao hiệu quả quản lý đô thị
Với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hạ tầng đô thị, ông Lê Quốc Tuấn, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH MTV Thoát nước đô thị TP.HCM (UDC) đã xây dựng chương trình hành động khi ứng cử đại biểu HĐND TP.HCM, tập trung nâng cao chất lượng đô thị và quản lý hạ tầng bằng công nghệ.
BVG tiếp tục đồng hành cùng Giải xe đạp nữ quốc tế TP.HCM - Cúp BIWASE 2026
Giải xe đạp nữ quốc tế TP.HCM - Cúp BIWASE 2026 mới chính thức khởi tranh. Năm nay, Tập đoàn Bình Minh Việt (BVG) tiếp tục tham gia tài trợ, khẳng định cam kết đồng hành cùng các hoạt động thể thao và lan tỏa những giá trị tích cực trong cộng đồng.
Hội Cấp Thoát nước Việt Nam công bố chủ đề Tuần lễ ngành Nước Việt Nam 2026
Hội Cấp Thoát nước Việt Nam vừa công bố chủ đề chính của Tuần lễ ngành Nước Việt Nam - Vietnam Water Week 2026 lần thứ 5 được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 16 - 18/9/2026 sẽ là: “Chuyển đổi số và tăng cường khả năng chống chịu ngành Nước trong kỷ nguyên số”.
Nhựa Tiền Phong trao tặng 2 xe cứu thương cho y tế Đặc khu Côn Đảo
Nhằm tăng cường năng lực cấp cứu, vận chuyển bệnh nhân; củng cố hệ thống y tế tại địa bàn có vị trí địa lý đặc thù, cách xa đất liền; Công ty CP Nhựa Thiếu niên Tiền Phong đã trao tặng 02 xe cứu thương trị giá hơn 2 tỷ đồng cho Trung tâm Y tế Quân Dân y và Trạm Y tế Đặc khu Côn Đảo.
Ngày nước thế giới 2026: "Nước và bình đẳng giới"
Liên Hợp Quốc vừa công bố chủ đề Ngày Nước Thế giới 2026 là “Nước và bình đẳng giới”. Thông điệp năm nay không chỉ nhấn mạnh bảo đảm nguồn nước an toàn mà còn khẳng định: nơi nào có nước chảy, nơi đó phải có sự bình đẳng trong phát triển.
Tục rước nước sông Đà: Giữ gìn “mạch nguồn xanh” trong văn hóa Việt
Nắng xuân trong veo, lan tỏa trên triền núi Ba Vì khi đoàn rước nước từ sông Đà bắt đầu hành trình về đình Văn Lai - một nghi lễ không chỉ thấm đượm tín ngưỡng văn hóa Việt mà còn chắt chiu tinh thần tôn kính nguồn nước, sống hòa hợp với thiên nhiên và gìn giữ mạch nguồn xanh cho hôm nay và mai sau.
Bình đẳng giới trong doanh nghiệp ngành Nước Việt Nam: Từ nhận thức đến thể chế hóa hành động
Trong bối cảnh phát triển bền vững và đổi mới quản trị doanh nghiệp, bình đẳng giới ngày càng được nhìn nhận như một thành tố quan trọng của chất lượng quản trị, thay vì chỉ là một yêu cầu xã hội hay pháp lý.